Cảm nhận về rào cản trong môi trường khởi nghiệp

Bài viết cảm nhận về rào cản trong môi trường khởi nghiệp và quan niệm xã hội về nghiệp chủ.

Cảm nhận về rào cản trong môi trường khởi nghiệp

Hoạt động khởi nghiệp

Hoạt động khởi nghiệp

Khởi nghiệp gắn liền với phát triển kinh tế và tạo của cải, giới thiệu các sản phẩm, chu trình giải pháp và dịch vụ mới cho người tiêu dùng và các nhà sản xuất, là công việc có ý nghĩa cho những người thích quyền lực, thách thức và là cơ hội để phát huy tính sáng tạo (Lim & cộng sự, 2010). Khởi nghiệp là biến quan trọng trong phát triển kinh tế các quốc gia được gọi là biến vốn khởi nghiệp (entrepreneurship capital) bên cạnh 3 biến truyền thống là vốn vật chất, nhân lực và tri thức (Audretsch, 2009).

Khởi nghiệp gia tăng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần thay đổi công nghệ, tạo ra nhiều việc làm. Chính phủ các nước phát triển cũng như đang phát triển đều dành nhiều chính sách hỗ trợ và nỗ lực để thúc đẩy việc khởi nghiệp trong giới trẻ, đặc biệt trong giới sinh viên khuyến khích họ không đi làm thuê mà hãy tự tạo việc làm, gia tăng số lượng doanh nghiệp cho phát triển kinh tế (Fayolle & Liñán, 2014). Do vậy, nghiên cứu về lý do, nhân tố ảnh hưởng tới khởi nghiệp sinh viên là đề tài được quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh và khởi nghiệp (Ghulam & Liñán, 2011).
Các nghiên cứu trước đây trên thế giới đã chỉ ra rằng các yếu tố môi trường khởi nghiệp như điều kiện thể chế, văn hóa – xã hội, gia đình đóng vai trò quan trọng đối với quá trình khởi nghiệp (Gnyawali & Fogel, 1994). Những yếu tố môi trường hoàn cảnh hiện tại của doanh nhân tương lai có thể hỗ trợ hoặc ngăn cản quá trình khởi nghiệp (Elfving & Carsrud, 2009). Môi trường khởi nghiệp của cá nhân có thể là yếu tố môi trường kinh doanh thực tế hoặc là chính cảm nhận của cá nhân về các điều kiện môi trường khởi nghiệp. Nhiều nghiên cứu về khởi nghiệp trước đây cho thấy, các điều kiện môi trường khởi nghiệp hay nói chính xác hơn là cảm nhận của cá nhân về điều kiện của môi trường khởi nghiệp có tác động lớn tới dự định khởi nghiệp của cá nhân vì về bản chất, khởi nghiệp hay lựa chọn nghề nghiệp là kết quả của nhận thức con người (Baughn & cộng sự, 2006).
Nhiều nghiên cứu trước đây đã quan tâm tới tác động của các rào cản trong môi trường khởi nghiệp tới dự định khởi nghiệp (Hadjimanolis, 2016; Lüthje & Franke, 2003; Schwarz & cộng sự, 2009; Robertson & cộng sự, 2003; Turker & Sonmez, 2009). Tuy nhiện, các nghiên cứu trước đây cho các bằng chứng không đồng nhất về mối quan hệ này. Nghiên cứu của Hadjimanolis (2016); Shahid & cộng sự (2017); Schwarz & cộng sự (2009) cung cấp bằng chứng cho thấy các nhân tố rào cản môi trường không có tác động tới dự định khởi nghiệp trong khi mối quan hệ đó trong nghiên cứu của Lüthje & Franke (2003) lại có ý nghĩa. Schwarz & cộng sự (2009) cho rằng với sinh viên đại học, ngoài việc bị ảnh hưởng bởi môi trường khởi nghiệp nói chung của một vùng hoặc quốc gia, còn chịu tác động lớn bởi môi trường khởi nghiệp ở trường đại học. Turker & Sonmez (2009), Fayolle & Liñán (2014) cho rằng môi trường đại học kết hợp với môi trường khởi nghiệp quốc gia tạo ra bối cảnh chung cho khởi nghiệp và tác động tới quan niệm và định hướng lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên, một mô hình kết hợp giữa các yếu tố môi trường chung và môi trường đại học sẽ giải thích được tốt hơn dự định khởi nghiệp của sinh viên.
Hơn nữa, các nghiên cứu trước đây thường được thực hiện ở các quốc gia phát triển, có đặc điểm xã hội tương đối khác ở Việt Nam, một nền kinh tế chuyển đổi của xã hội văn hóa Á Đông. Ở một xã hội tập thể như ở các nước Á Đông, môi trường xã hội có tác động lớn tới suy nghĩ, quan điểm của cá nhân (Begley & Tan, 2001). Do vậy, nghiên cứu này kết hợp yếu tố quan điểm xã hội về nghiệp chủ, môi trường đại học và rào cản môi trường khởi nghiệp chung vào trong cùng một mô hình nghiên cứu tác động đến dự định khởi nghiệp ở sinh viên đại học trên cả 2 nhóm ngành kỹ thuật và kinh tế – quản trị kinh doanh ở Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi.

Dự định khởi nghiệp

Khởi nghiệp (entrepreneurship): Begley & Tan (2001) định nghĩa khởi nghiệp là bắt đầu hoặc tạo dựng một công việc kinh doanh mới.

Xuất phát từ các lý thuyết về nhận thức xã hội (social cognitive theory) và lý thuyết về hành vi hợp lý, đồng thời với quan điểm cho rằng khởi nghiệp là một loại hành vi có kế hoạch, các nghiên cứu trước đây cho rằng mặc dù các doanh nhân khởi nghiệp là để khai thác, tận dụng một cơ hội của thị trường nhưng trước khi đi tới quyết định thành lập doanh nghiệp, một doanh nhân đã phải nghĩ tới, ham thích và có ý định khởi nghiệp, từ đó họ mới tìm kiếm cơ hội, tìm kiếm tài chính và đối tác (Begley & Tan, 2001; Linan & Chen, 2009; Krueger & cộng sự, 2000). Dự định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp mới, một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Krueger & cộng sự, 2000).
Dự định khởi nghiệp được bắt nguồn từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình. Theo quan điểm của lý thuyết về hành vi có kế hoạch, dự định khởi nghiệp có khả năng dự báo các hành vi khởi nghiệp trong tương lai (Ajzen, 1991). Trên cơ sở này, việc nghiên cứu về dự định khởi nghiệp thực sự có ý nghĩa trong các nghiên cứu trong lĩnh vực khởi nghiệp (Linan & Chen, 2009).

Mối quan hệ giữa các rào cản trong môi trường khởi nghiệp và dự định khởi nghiệp

Trong các nghiên cứu trước đây, các nhà nghiên cứu đã xác định dự định khởi nghiệp chịu tác động của cảm nhận về các rào cản từ hệ sinh thái khởi nghiệp, các điều kiện môi trường khởi nghiệp (Lim & cộng sự, 2010; Clercq & cộng sự, 2011). Trong đó, cảm nhận về rào cản trong môi trường khởi nghiệp (perceived entrepreneurship environment barriers): là cảm nhận của một cá nhân về những điều kiện khó khăn trong môi trường có thể gặp phải trong quá trình khởi nghiệp (Schwarz & cộng sự, 2009). Môi trường khởi nghiệp bao gồm tất cả các nhân tố có tác động tới quá trình khởi nghiệp của cá nhân từ thể chế, tình trạng cạnh tranh thị trường, chính sách hỗ trợ, các dịch vụ cung ứng liên quan tới khởi nghiệp (Gnyawali & Fogel, 1994).
Theo mô hình dự định khởi nghiệp đề xuất từ lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991), hoạt động khởi nghiệp không phải hành động của một thời điểm mà nó là kết quả của cả một quá trình. Quá trình này bắt đầu từ cá nhân có thái độ tích cực với khởi nghiệp, trong những điều kiện khác nhau của môi trường thái độ tích cực sẽ có thể hoặc không bao giờ biến thành dự định và hành động khởi nghiệp thực tế.
Một dự định khởi sự công việc kinh doanh mới có thể không được hình thành do cá nhân thấy có nhiều khó khăn trong điều kiện hoàn cảnh môi trường xung quanh (Krueger & cộng sự, 2000). Schwarz & cộng sự (2009), Robertson & cộng sự (2003) cho rằng cảm nhận về điều kiện khó khăn, rào cản trong môi trường khởi nghiệp là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới dự định khởi nghiệp.
Rào cản trong môi trường có thể khiến một cá nhân có thái độ tốt với khởi nghiệp không bao giờ tiến hành các hành vi khởi nghiệp (Turker & Sonmez, 2009). Nếu sinh viên cảm nhận rằng họ sẽ khó vay vốn, khó đưa ra ý tưởng mới, chính sách hiện không thuận lợi cho việc ra đời các công ty khởi nghiệp thì dự định khởi nghiệp sẽ thấp (Luthje & Franke, 2003)

Mối quan hệ giữa quan niệm xã hội về chủ doanh nghiệp và dự định khởi nghiệp

Quan niệm xã hội về chủ doanh nghiệp (Entrepreneurship social indentification) là cảm nhận của một cá nhân về việc một doanh nhân sẽ được những người khác trong xã hội đánh giá cao hay thấp khi lựa chọn nghề tự kinh doanh (Nasurdin, 2009; Baughn & cộng sự, 2006). Quan niệm xã hội về chủ doanh nghiệp thể hiện vị trí trong xã hội của chủ doanh nghiệp. Quan điểm của xã hội có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực tới suy nghĩ của một cá nhân vì bản thân con người là sản phẩm của niềm tin của môi trường xã hội.
Các nghiên cứu ở Trung Quốc, Nhật Bản, Philippin đều cho thấy trong các nền văn hoá phương Đông, văn hoá tập thể các cá nhân thường nhạy cảm hơn và quan tâm hơn tới các đánh giá, nhìn nhận của xã hội về hành động của cá nhân mình (Begley & Tan, 2001; Shahid & cộng sự, 2017). Cách thức mà xã hội nhìn nhận về nghiệp chủ và doanh nhân đóng vai trò môi trường tâm lý quan trọng trong các nghiên cứu về khởi nghiệp của cá nhân (Baughn & cộng sự, 2006).
Các nhân tố xã hội có vai trò quan trọng trong động viên các cá nhân khởi nghiệp giống như sự sẵn có các nguồn lực khởi nghiệp, các hỗ trợ kỹ thuật hay thông tin (Kristiansen & Indarti, 2004). Cảm nhận về vị trí, sự tôn trọng của xã hội với những người chấp nhận rủi ro làm chủ doanh nghiệp, sẽ tác động tới thái độ của các cá nhân trong xã hội khi đứng trước sự lựa chọn nghề nghiệp. Đặc biệt Begley & Tan (2001) đã khẳng định trong nghiên cứu của mình ở nền văn hoá phương Đông, nghề nghiệp thể hiện vị trí xã hội của một cá nhân. Vị trí xã hội là cơ sở của đẳng cấp xã hội.
Vì vậy lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân chính là thể hiện đẳng cấp xã hội, là cơ sở để một cá nhân có được vị thế, uy tín sức mạnh và sự giàu có trong xã hội. Trong một xã hội có thái độ tích cực về chủ doanh nghiệp, những cá nhân trong xã hội coi trọng và đề cao chủ doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp được coi là thuộc đẳng cấp, địa vị cao so với các nghề nghiệp khác và được tôn vinh thì gia tăng mong muốn của cá nhân khởi nghiệp trong tương lai (Beyleg & Tan, 2001; Baughn & cộng sự, 2006).

Mối quan hệ giữa môi trường khởi nghiệp ở trường đại học và dự định khởi nghiệp

Các trường đại học đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tinh thần doanh nhân ở sinh viên vì các thể chế giáo dục là nơi lý tưởng nhất để truyền tải về văn hóa, tư duy, suy nghĩ mang tính sáng tạo, đổi mới không ngại rủi ro của doanh nhân cho sinh viên (David & cộng sự, 2007). Thực tiễn cho thấy, các trường MIT, Havard có tỉ lệ sinh viên khởi nghiệp rất cao vì trường có một môi trường nhiều sinh viên khởi nghiệp và khởi nghiệp thành công, các ý tưởng sáng tạo, đổi mới được khuyến khích (Luthje & Franke, 2003).
Nhiều nghiên cứu đã ủng hộ quan điểm giáo dục và đào tạo là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong phát triển con người và nguồn lực con người (Ghulam & Liñán, 2011; David và cộng sự, 2007). Theo đó, sau này với sự nổi lên của các nghiên cứu dựa trên tâm lý học xã hội về hành vi dự định thì nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra chương trình đào tạo đại học, môi trường học đại học, các hỗ trợ của trường, các hoạt động của sinh viên ở trường đại học có tác động tích cực tới mong muốn, sự quan tâm và định hướng khởi nghiệp trong tương lai của sinh viên (Luthje & Franke, 2003).
Để chuẩn hóa mô hình nghiên cứu lý thuyết, kiểm tra thang đo, đầu tiên nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với 10 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia và sinh viên đại học năm cuối của các trường trên địa bàn Hà Nội. Đối tượng phỏng vấn ở nhiều trường khác nhau gồm cả khối kỹ thuật và kinh tế – quản trị kinh doanh, một số người đã có kinh nghiệm mở công ty hoặc góp vốn mở công ty. Các giả thuyết đã nêu trên được kết quả nghiên cứu định tính bước đầu ủng hộ. Các thang đo cũng được chuẩn hóa về mặt từ ngữ và phù hợp với bối cảnh Việt Nam để sử dụng trong nghiên cứu chính thức. Sau nghiên cứu định tính, tác giả cũng đã thực hiện một cuộc điều tra định lượng sơ bộ trước khi tiến hành điều tra chính thức để đánh giá và hiệu chỉnh thang đo với mẫu nhỏ.
Môi trường khởi nghiệp đại học (UE) với 4 biến quan sát gốc được sử dụng từ nghiên cứu của Schwarz & cộng sự (2009). Sau bước phân tích độ tin cậy và tính hội tụ, bị loại trừ 1 biến do không đạt tiêu chuẩn nên còn 3 biến quan sát được sử dụng gồm các câu hỏi như: Ở trường đại học của tôi, sinh viên được khuyến khích theo đuổi ý tưởng kinh doanh mới; môi trường sáng tạo ở trường thu hút chúng tôi phát triển các doanh nghiệp mới; trường cung cấp các kiến thức cần thiết cho việc bắt đầu doanh nghiệp mới.
Rào cản môi trường khởi nghiệp (EB) với 6 biến quan sát được sử dụng từ nghiên cứu của Luthje & Franke (2003) và sau này Schwarz & cộng sự (2009) đã sử dụng, gồm các câu hỏi như: Doanh nghiệp mới rất khó vay vốn từ các tổ chức tín dụng; Quy định và luật lệ của chính phủ không thuận lợi cho thành lập công ty; Rất khó có thể tìm ra ý tưởng kinh doanh mới ở Việt Nam; Các dịch vụ tư vấn hỗ trợ có chất lượng doanh nghiệp trẻ rất thiếu ở Việt Nam; Doanh nghiệp mới rất khó gia nhập thị trường; Rất thiếu các hỗ trợ cho doanh nghiệp mới.
Dự định khởi nghiệp (DD) với 5 biến quan sát được sử dụng từ thang đo EIQ của Linan & Chen (2009). Các biến quan sát gồm: Tôi đã sẵn sàng làm mọi thứ để trở thành chủ doanh nghiệp; Tôi sẽ nỗ lực hết sức để khởi nghiệp trong thời gian tới; Tôi đã quyết định sẽ khởi sự kinh doanh trong tương lai; Mục tiêu của đời tôi là trở thành chủ doanh nghiệp; Tôi tin sẽ có ngày tôi khởi sự kinh doanh
Quan niệm xã hội về nghiệp chủ (SE) sử dụng thang đo từ thang đo của Nasurdin (2009) gồm 3 biến quan sát: Nếu tôi trở thành chủ doanh nghiệp, tôi sẽ được đánh giá cao; Nếu con tôi hoặc họ hàng tôi trở thành chủ doanh nghiệp, họ sẽ được gia đình, bạn bè và xã hội đánh giá cao; Nếu một người bạn của tôi trở thành chủ doanh nghiệp, họ sẽ được gia đình bạn bè và xã hội đánh giá cao.

Kết luận các yếu tố tác động môi trường khởi nghiệp tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố môi trường khởi nghiệp gồm môi trường khuyến khích khởi nghiệp ở trường đại học, quan niệm xã hội về nghiệp chủ và các rào cản trong môi trường khởi nghiệp có tác động tới dự định khởi nghiệp của sinh viên. Khởi nghiệp kinh doanh là động lực cho xây dựng một nền kinh tế năng động tăng trưởng bền vững, muốn tăng cường hoạt động khởi nghiệp kinh doanh, cần thiết lập chính sách, thể chế, môi trường hỗ trợ thuận lợi, cởi bỏ hạn chế các rào cản. Chính phủ cần tăng cường truyền thông trong xã hội để tạo ra một môi trường xã hội coi trọng doanh nhân, tôn vinh các nghiệp chủ thành công. Ngoài ra, giáo dục đại học cũng có thể góp phần tạo ra một thế hệ những con người có khát vọng tạo lập các doanh nghiệp mới bằng cách tạo môi trường sáng tạo, đổi mới trong trường đại học thúc đẩy tinh thần doanh nhân của sinh viên ngay từ khi còn ngồi ghế nhà trường.
Nghiên cứu có một số hạn chế và cũng gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo. Nghiên cứu này là nghiên cứu một thời điểm. Nghiên cứu một thời điểm không cho chúng ta biết tác động của các yếu tố môi trường tới hành vi khởi sự kinh doanh, hành vi này có thể diễn ra một thời gian dài sau khi có dự định. Cần tăng cường các nghiên cứu thực nghiệm làm rõ mối quan hệ giữa dự định và quyết định khởi nghiệp. Các nghiên cứu tương lai cũng cần khám phá các nhân tố về nhận thức, môi trường, xã hội, đào tạo đại học có thể ngăn cản hoặc thúc đẩy việc biến tiềm năng, dự định thành hành động, và cũng rất cần các nghiên cứu mới để khám phá cách thức, cơ chế để tiềm năng chuyển thành hành vi trong thực tế.
Các nhân tố môi trường tác động tới dự định khởi nghiệp có thực sự tác động tới hành vi khởi nghiệp. Để có thể theo dõi một hành vi mang tính ẩn trong thời gian dài như vậy, các nghiên cứu mới cần kết hợp sử dụng nhiều phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu khác, bao gồm cả dữ liệu một thời điểm và đa thời điểm (longitudinal) thì mới có thể giải quyết các câu hỏi trên.

5/5 - (2 votes)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo