Đổi mới hướng tới cải thiện môi trường của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

Bài viết cung cấp nội dung đổi mới cải thiện môi trường của Doanh nghiệp vừa và nhỏ SMEs tại Việt Nam

Đổi mới hướng tới cải thiện môi trường của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

SMEs

Tầm quan trọng của đầu tư hướng tới cải thiện môi trường

Khi các hoạt động liên quan đến đạo đức kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng cũng như sự kêu gọi hành động đúng chuẩn mực dành cho sự cải thiện của môi trường tăng lên, các công ty phải đối mặt với áp lực thực hiện cải thiện môi trường. Cải thiện môi trường ngụ ý rằng đổi mới trong các sản phẩm, quy trình hoặc mô hình kinh doanh để đưa công ty đạt mức bền vững môi trường cao hơn (Triguero & cộng sự, 2013).
Trong những năm qua, nghiên cứu định lượng và định tính đã có đóng góp quan trọng để thúc đẩy cải thiện môi trường. Một số bằng chứng cho thấy rằng doanh nghiệp thực hiện cải thiện môi trường do ý thức về trách nhiệm sinh thái và đạo đức (Bansal, 2005).
Một số nghiên cứu khác tìm thấy các nhân tố bổ sung khác bao gồm nhu cầu cải thiện khả năng và cạnh tranh (Bansal, 2005), động lực, kinh nghiệm, hiểu biết của các nhà quản lý về vấn đề môi trường (Sharma, 2000), áp lực của các bên liên quan (Sharma & Henriques, 2005), tác động của hội đồng quản trị (Kassinis & cộng sự, 2016), áp lực thể chế (Berrone & cộng sự, 2010), ảnh hưởng của các bộ phận chức năng (Delmas & Toffel, 2008), nguồn lực và khả năng tổ chức chuyên ngành (Chen & Chang, 2013). Sự quan tâm ngày càng tăng đối với cải thiện môi trường là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia vào cải thiện đổi mới hướng tới bền vững môi trường.
Ngoài ra, hầu hết các nghiên cứu trước đây về cải thiện môi trường tập trung phân tích những ngành riêng biệt, vai trò của thương mại quốc tế cũng ít được xem xét. Các nghiên cứu về áp lực thể chế có xu hướng xem xét mối quan hệ này trong giới hạn quốc gia. Tuy nhiên, theo logic của lý thuyết thể chế (DiMaggio & Powell, 1983), hiện tượng quốc tế hóa và toàn cầu hóa cho thấy một số trường hợp nhất định các doanh nghiệp có hoạt ở nước ngoài có thể phải đối mặt với áp lực bên ngoài vượt qua biên giới quốc gia của họ.
Việt Nam được đánh giá là quốc gia đang trên đà phát triển. Trải qua hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại các giống loài, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người là cái giá phải trả cho quá trình phát triển này.
Vấn đề này đang trở nên nghiêm trọng và đáng báo động hơn hết trong thời gian này. Hàng năm, cả nước tiêu thụ hơn 100.000 tấn hóa chất, hơn 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp, hơn 630.000 tấn chất thải nguy hại trong khi việc xử lý chất thải, nước thải còn đang rất hạn chế (theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2018). Hàng loạt vụ ô nhiễm gần đây tại Hà Nội cho thấy môi trường đang không được bảo vệ đúng mức trong bối cảnh đất nước tiếp tục tăng trưởng.
Cải thiện môi trường được xem là cơ hội cũng như tăng khả năng cạnh tranh, tồn tại doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. Do đó, việc nghiên cứu đánh giá các nhân tố tác động tới hành vi ra quyết định đầu tư hướng tới cải thiện môi trường của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, tăng năng suất, thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, nghiên cứu về chủ đề này còn rất khiêm tốn tại Việt Nam.
Nghiên cứu này sẽ bổ sung những phân tích về đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định cải thiện môi trường của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 bằng việc sử dụng số liệu điều tra được thu thập bởi Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung Ương (CIEM). Nghiên cứu về vấn đề này hiện tại còn khá khiêm tốn và tập trung chủ yếu ở các nước phát triển. Còn nhiều khía cạnh có thể ảnh hưởng tới hành vi ra quyết định này của doanh nghiệp chưa được khai thác. Nghiên cứu này sẽ cung cấp các phân tích liên quan tới hành vi lựa chọn này của doanh nghiệp một cách chuyên sâu để bù đắp cho những hạn chế còn tồn tại trong lĩnh vực này.

Đổi mới hướng tới cải thiện môi trường là gì?

Theo Kemp & Arundel (2008), đổi mới hướng tới cải thiện môi trường được định nghĩa là sự thay đổi một sản phẩm, quy trình sản xuất, dịch vụ hoặc quản lý hoặc phương thức kinh doanh mới của doanh nghiệp trong thời gian sử dụng hoặc tiêu dùng giúp giảm rủi ro tiêu dùng, ô nhiễm và các tác động tiêu cực khác của việc sử dụng tài nguyên. Những lo ngại về tác động môi trường của doanh nghiệp đã dẫn đến tình trạng cấp bách trong việc tìm kiếm các phương tiện và phương pháp để giảm thiểu tác động này.
Lý thuyết thể chế (DiMaggio & Powell, 1983) cho rằng các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến cách thức và thúc đẩy các hành động của tổ chức. Cụ thể, những ảnh hưởng bên ngoài bao gồm sự cưỡng chế, bắt chước và quy phạm. Các lực lượng cưỡng chế bao gồm áp lực từ các tác nhân bên ngoài như khách hàng hoặc chính phủ. Lực lượng bắt chước bao gồm áp lực từ các đối thủ cạnh tranh hoặc như các tổ chức khác. Các lực lượng quy phạm bao gồm các tiêu chuẩn kỹ thuật, các luật lệ phi chính thức. DiMaggio & Powell (1983) lập luận rằng nhà cung ứng, khách hàng và đối thủ cạnh tranh đều là một phần của chuỗi cung ứng, và sự liên hệ chặt chẽ với các tổ chức dẫn tới sự phù hợp hơn. Chính phủ cũng tác động tới hành vi của doanh nghiệp thông qua các luật lệ, pháp chế của mình. Lý thuyết thể chế này nhấn mạnh ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, các mối quan hệ tới quyết định của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, các học giả lại phê bình lý thuyết thể chế khi chỉ ra rằng các công ty dường như thụ động, thích nghi với những kỳ vọng được thể chế hóa (Oliver, 1991). Trong nghiên cứu của mình, Greenwood & Hinings (1996) mô tả rằng lý thuyết thể chế không giải thích thỏa đáng các động lực và nhấn mạnh rằng đặc điểm nội tại của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận hoặc từ chối các hoạt động được quy định bởi thể chế.
Các học giả khác lại cho rằng lý thuyết thể chế không giải thích thỏa đáng cho việc các doanh nghiệp có chiến lược khác nhau, mặc dù chịu cùng một mức độ áp lực thể chế (Ashworth & cộng sự, 2009). Do đó, các lý thuyết dựa trên tài nguyên (Barney, 1991) được lựa chọn nhằm cung cấp một khung lý thuyết bổ sung để giải thích cho hành vi thực hiện cải thiện môi trường của doanh nghiệp. Lý thuyết này chỉ ra rằng các doanh nghiệp có được lợi thế, hiệu suất vượt trội thông qua các nguồn lực nội tại như nguồn nhân lực, tài sản, quản lý tổ chức. Do đó, các đặc điểm nội tại của bản thân doanh nghiệp là yếu tố quyết định để doanh nghiệp thực hiện các hành vi đổi mới hướng tới cải thiện môi trường.
Trong bài nghiên cứu, chúng tôi kết hợp cả lý thuyết thể chế và lý thuyết dựa vào tài nguyên để phân tích hành vi của doanh nghiệp. Dựa vào đó, các yếu tố bên ngoài và đặc điểm nội tại của doanh nghiệp đồng thời giải thích hành vi doanh nghiệp thực hiện các hoạt động đổi mới hướng tới cải thiện môi trường.

+ Đặc điểm của nhà lãnh đạo có ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư

Đặc điểm cá nhân của người quản lý của một công ty như kinh nghiệm, tính cách, giới tính có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới các lựa chọn chiến lược, ví dụ như hoạt động đổi mới của doanh nghiệp (Hambrick, 2007). Các nghiên cứu trước đây đã nhấn mạnh vai trò của giá trị và nhận thức của người quản lý đối với các quyết định liên quan tới vấn đề môi trường. Ví dụ, Hemingway & Maclagan (2004) nhấn mạnh vai trò của các giá trị quản lý trong việc thực hiện các chính sách xanh, trong khi Brust & Liston-Heyes (2010) chỉ ra vai trò của các kế hoạch, dự định thiết lập bởi người quản lý tới các vấn đề liên quan tới tư duy môi trường.
Một số nghiên cứu đã phân tích tác động của của các vấn đề liên quan tới người lãnh đạo như động cơ, kinh nghiệm, hoặc những hiểu biết xung quanh các vấn đề về môi trường (Sharma, 2000; Walker & cộng sự, 2014). Tuy nhiên, các bằng chứng thực nghiệm liên quan tới đánh giá tác động của đặc điểm cá nhân của người lãnh đạo tới các vấn đề môi trường chưa đưa ra những kết luận thống nhất. Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây vẫn chưa cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này ở các nước đang phát triển (Barbieri & cộng sự, 2016).
Các nhà nghiên cứu đã ngày càng hướng sự chú ý tới vai trò của giới tính người lãnh đạo tới các hoạt động đổi mới hướng tới cái thiện môi trường. Cụ thể, Kassinis & cộng sự (2016) và Galbreath (2019) cho thấy rằng lãnh đạo là nữ giới có ảnh hưởng tích cực tới nỗ lực cải thiện môi trường của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc người lãnh đạo là nữ giới có thể tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Ahern & Dittmar, 2012), và vì vậy tạo ra những thách thức để thực hiện các hoạt động đổi mới cải thiện môi trường.

+ R&D có ảnh hưởng tích cực tới hành vi đổi mới hướng tới cải thiện môi trường.

Cuối cùng, có một lượng lớn tài liệu về tầm quan trọng của mạng lưới hợp tác phát triển đến thúc đẩy hành vi cải thiện môi trường. Việc tham gia vào các mạng lưới hợp tác phát triển có liên quan tích cực đến đổi mới (Leyden & cộng sự, 2014). Đây là nơi gặp gỡ, trao đổi chéo các thông tin, mở rộng hợp tác, tiếp thu kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thêm nhiều thông tin về thị trường, đối thủ, nhà cung cấp để chọn lọc ra quyết định. Việc sử dụng các mạng lưới kết nối công nghệ như internet, website, email giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, dễ dàng tiếp cận với mạng lưới người tiêu dùng ở trong nước và quốc tế. Leyden & cộng sự (2014) coi tầm quan trọng về ảnh hưởng của các mạng lưới này ảnh hưởng cải thiện môi trường sạch hơn. Hơn nữa, mạng lưới này thậm chí còn quan trọng hơn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ hơn là cho các công ty lớn vì họ làm cơ sở cho cải thiện môi trường (Halila, 2007). Trong bối cảnh này, xem xét rằng:

+ Mở rộng hợp tác phát triển thúc đẩy cải thiện môi trường

Nghiên cứu này sử dụng mô hình Probit xây dựng trên nền tảng lý thuyết thể chế và lý thuyết dựa trên tài nguyên, chúng tôi đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố quyết định tới hành vi cải thiện môi trường của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Trong các nhân tố, trách nhiệm với môi trường là yếu tố quyết định mạnh nhất của chiến lược cải thiện môi trường. Các đặc điểm của nhà lãnh đạo như giới tính, trình độ giáo dục và những hiểu biết về luật, các vấn đề môi trường đóng vai trò quyết định tới hành vi thực hiện cải thiện mội trường của doanh nghiệp.
Chúng tôi chỉ ra rằng lãnh đạo là nam giới, có trình độ và hiểu biết thường thúc đẩy doanh nghiệp của mình hướng tới các hoạt động này. R&D cũng cần được xem xét cẩn trọng như là nhân tố cần thiết giúp khuếch tán năng lực hấp thụ. Bên cạnh việc cung cấp một khung lý thuyết mới phân tích về hành vi cải thiện môi trường của doanh nghiệp, nghiên cứu này cũng cung cấp hàm ý chính sách quan trọng. Cụ thể, chính phủ cần có những chính sách phát triển năng lực nội tại của bản thân doanh nghiệp như việc thúc đẩy R&D, quy mô doanh nghiệp, hỗ trợ hoạt động sản xuất của họ. Ngoài ra, việc lựa cho người lãnh đạo cần phải đánh giá cẩn thận về mặt trình độ và tính cách.

5/5 - (2 votes)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo