Mô hình công bố thông tin, doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Mô hình công bố thông tin, doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trong các doanh nghiep SMEs

Mô hình công bố thông tin

Kế toán tài chính là hệ thống liên quan đến đo lường các đối tượng kế toán và công bố (disclosure) thông tin cho các bên có liên quan đến lợi ích doanh nghiệp. Nếu như đo lường liên quan đến các nguyên tắc ghi nhận và xác định giá trị của các đối tượng kế toán thì công bố liên quan đến mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin của nhiều đối tượng sử dụng khác nhau. Trong môi trường cạnh tranh lành mạnh thì tính minh bạch thông tin luôn được xem là một tiêu chí quan trọng, và do vậy công bố thông tin càng trở nên có ý nghĩa.
Ở nước ta, các nguyên tắc và yêu cầu công bố thông tin được qui định trong chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán doanh nghiệp, biểu hiện qua hệ thống báo cáo tài chính (BCTC).
Tuy nhiên cho đến nay các nghiên cứu về công bố thông tin của các doanh nghiệp ở nước ta còn quá khiêm tốn và thường xem xét ở các công ty cổ phần yết giá trên thị trường chứng khoán (Hằng, 2011; Phương, 2010). Hệ thống văn bản pháp lý của nhà nước về công bố thông tin cũng tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô lớn, như thông tư 57/2004/TT-BTC hay thông tư 09/2010/TT-BTC.
Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thì các nghiên cứu về vấn đề này càng ít đề cập hơn. Cùng với tính chế tài trong việc công bố thông tin còn chưa đủ mạnh, chúng tôi hoài nghi về mức độ và chất lượng thông tin công bố trong BCTC ở các DNNVV. Phải chăng, đây là những lý do làm cho nhiều chuyên viên tín dụng ở các ngân hàng thương mại chưa thực sự quan tâm BCTC là cơ sở cho quá trình ra quyết định. Bài viết này thông qua khảo sát thực trạng công bố thông tin trong một điều tra thử nghiệm nhằm phác thảo mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trong các DNNVV ở Việt Nam.
Doanh nghiệp là một tế bào trong nền kinh tế và có liên quan đến nhiều đối tượng có quan hệ lợi ích doanh nghiệp. Các đối tượng này có thể phân thành hai nhóm là các cơ quan quản lý nhà nước (thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, thống kê, ủy ban chứng khoán..) hay các tổ chức kinh tế (ngân hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư…) và các cá nhân khác. Do vậy, việc công bố thông tin kế toán trong từng giai đoạn tùy thuộc vào ảnh hưởng của các nhóm lợi ích đối với doanh nghiệp. Có nhiều quan điểm tiếp cận đến việc công bố thông tin, trong đó nổi bật là trường phái mô hình kế toán Anglo-Saxon và mô hình châu Âu lục địa, hay mô hình kế toán hướng đến thị trường tài chính và hệ thống hướng đến ngân hàng. Tương ứng với các mô hình trên, có thể thấy việc công bố thông tin xuất phát từ sự xung đột và giải quyết xung đột lợi ích của các nhóm trên với các lý thuyết sau:

Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện (Agency theory) do Jensen và Meckling đề cập lần đầu vào năm 1976 và được giới học thuật vận dụng trong các lĩnh vực tài chính, kế toán… Theo đó, ở các tổ chức kinh tế đều tồn tại mâu thuẫn giữa người quản lý với người chủ sở hữu; giữa chủ sở hữu với người cho vay do mỗi bên đều luôn mong đợi tối đa hóa lợi ích của mình. Trên góc độ công bố thông tin kế toán, thông tin gì được công bố thực chất giải quyết bài toán lợi ích của các bên có liên quan. Trong bối cảnh kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước là đối tượng sử dụng chủ yếu số liệu BCTC doanh nghiệp nên việc công bố thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý tập trung của nhà nước. Tuy nhiên, trong mô hình kinh tế thị trường mà ở đó thị trường vốn hay hệ thống ngân hàng phát triển mạnh sẽ ảnh hưởng đến việc công bố thông tin của doanh nghiệp (DN). Điều này lý giải tại sao các công ty cổ phần yết giá luôn được yêu cầu công bố đầy đủ, cập nhật nhiều hơn các DN thuộc các loại hình khác. Đây là cơ sở hình thành nên khái niệm công bố thông tin bắt buộc đối với các DN.

Lý thuyết Tín hiệu

Lý thuyết Tín hiệu (Signaling theory). Theo lý thuyết này, việc công bố thông tin của một DN có thể truyền những dấu hiệu cho nhà đầu tư về thông tin bên trong ở doanh nghiệp. Lý thuyết tín hiệu được phát triển để giải thích việc công bố thông tin tự nguyện. Craven và Marston (1999) cho rằng nhà quản lý thông qua việc tự nguyện công bố thông tin để phân biệt được doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả cao hơn doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh. Tín hiệu có mức độ khác nhau về độ tin cậy và do đó công bố tự nguyện được coi là một trong những phương tiện giúp người sử dụng thông tin phân biệt các DN về chất lượng và hiệu quả. Theo Watts và Zimmerman (1986), một chiến lược hợp lý là công bố những thông tin bổ sung cho các nhà đầu tư tín hiệu về giá trị của công ty.

Lý thuyết tính hợp pháp

Lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy Theory)Tính hợp pháp tập trung vào các quy định, điều khoản trên hợp đồng hoặc thỏa thuận giữa DN với các đối tác dựa trên tiền đề rằng: tính hợp pháp của công ty được biểu hiện bằng cách công bố một số thông tin trong báo cáo hàng năm. Bằng cách tự nguyện tiết lộ một số thông tin, nhà quản lý có thể làm rõ với các bên liên quan về một số hoạt động nào đó của DN (Watson và cộng sự, 2002).

Các lý thuyết trên chỉ ra hai dạng cơ bản của công bố thông tin là công bố bắt buộc và công bố tự nguyện. Công bố bắt buộc là những công bố kế toán theo quy định của luật pháp, và những công bố này phải được trình bày theo những quy định của chuẩn mực kế toán. Công bố tự nguyện là việc công bố những thông tin kế toán mà luật pháp không yêu cầu, DN được lựa chọn các thông tin cần thiết cho những đối tượng sử dụng thông tin để công bố . Khi các DN tự nguyện công bố thông tin sẽ đem lại lợi ích cho cả công ty và các bên có liên quan.
Đối với các DNNVV ở Việt Nam, việc công bố thông tin chủ yếu là công bố thông tin bắt buộc. Theo chuẩn mực kế toán hiện hành và chế độ kế toán cho DNNVV (QĐ 48/2006), các DNNVV phải lập bắt buộc 3 báo cáo là Bảng cân đối kế toán (BCĐKT), Báo cáo kết quả kinh doanh và Thuyết minh BCTC. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ không bắt buộc phải lập, và DN còn lập thêm Bảng cân đối số phát sinh cho cơ quan thuế.
Trong các báo cáo trên thì phần công bố trên thuyết minh BCTC có thể coi là quan trọng nhất, vì trong báo cáo này phải trình bày các nội dung về đặc điểm DN, chính sách kế toán áp dụng, giải trình các số liệu tổng hợp và các thông tin khác. Hầu hết, các thông tin công bố trong thuyết minh có tính định lượng, ngoài trừ một số chỉ tiêu mang tính định tính để giải trình đặc thù hoạt động của DN.

Phác thảo mô hình dự tính các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin

Những kết quả điều tra thử nghiệm chỉ là ý tưởng ban đầu để tìm kiếm mô hình công bố thông tin trong các DNNVV. Ở các DN có qui mô lớn, đặc biệt là công ty cổ phần, ngoài việc công bố thông tin bắt buộc, còn có công bố thông tin tự nguyện để doanh nghiệp có cơ hội quảng bá hình ảnh của mình, hoặc giảm thiểu vấn đề bất cân xứng thông tin (assymetric information) giữa doanh nghiệp với các bên có liên quan.
Ở các doanh nghiệp nhỏ, tuy các xung đột về lợi ích không nhiều như công ty lớn nhưng điều này không có nghĩa là không có. Đó là quan hệ giữa DN với cơ quan thuế khi mà doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm cao hơn đối với báo cáo của mình thì những công bố thông tin rõ ràng, đầy đủ trong phạm vi thuyết minh tài chính cũng là cách thức để cơ quan thuế kiểm tra doanh nghiệp thuận lợi hơn. Đó là quan hệ giữa DN với ngân hàng thương mại, khi rất nhiều nghiên cứu cho rằng các DNNVV rất khó tiếp cận với nguồn tín dụng mà nguyên nhân có từ thông tin kế toán không minh bạch.
Đối với những DNNVV là công ty cổ phần thì việc công bố thông tin cũng cần phải xem xét đến vì nó ảnh hưởng đến quyền lợi của những cổ đông góp vốn. Từ những lý do trên và kết quả điều tra thử nghiệm, việc phác thảo mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trong các DNNVV có thể minh họa qua hình 1.

Qui mô của doanh nghiệp. Tuy kết quả điều tra thử nghiệm chưa xem xét qui mô DN nhưng qui mô luôn là nhân tố được đề cập trong nhiều mô hình kinh tế vì ở đó, nó thể hiện mức độ phức tạp của các giao dịch kinh tế và năng lực của chính doanh nghiệp. Qui mô doanh nghiệp càng lớn thường thu hút số đông các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin và các cơ quan có thẩm quyền (Watts và Zim- merman, 1986). Do vậy, công bố thông tin là yếu tố cần phải xem xét. Việc công bố thông tin là một mặt của quá trình vận dụng chuẩn mực kế toán và nhiều nghiên cứu Chow vaù Wong-Boren (1987), Cooke (1989, 1991), Meek và cộng sự (1995) đã cho thấy qui mô công ty càng lớn càng tự nguyện công bố thông tin nhằm dễ dàng huy động vốn để tài trợ hoạt động kinh doanh, và giảm chi phí vốn. Vì vậy, khi phác họa mô hình, chúng tôi vẫn xem đây là nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tính phức tạp hoạt động của doanh nghiệp. Nhân tố này thường thể hiện qua đặc thù các nghiệp vụ kinh tế trong từng lĩnh vực sản xuất, thương mại hay dịch vụ; và đến lượt nó ảnh hưởng đến các chính sách và ước tính kế toán ở doanh nghiệp. Sự phức tạp trong hoạt động cũng có mối quan hệ với qui mô của công ty. Những khảo sát thử nghiệm ở trên phần nào cho thấy mức độ công bố thông tin có sự khác nhau ở các lĩnh vực hoạt động. Đây là cơ sở để chúng tôi dự tính xem xét nhân tố này ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trong các DNNVV ở Việt Nam.

Cơ hội tăng trưởng. Công bố thông tin không chỉ là cách để thể hiện nghĩa vụ của mỗi DN với người bên ngoài (thuế, ngân hàng, nhà đầu tư…) mà còn là cách thức để quảng bá và thu hút vốn đầu tư, dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn để mở mang kinh doanh. Vì vậy, các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng càng lớn thường có dự định và có trách nhiệm hơn trong công bố thông tin.

Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trong các doanh nghiep

Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trong các doanh nghiep

Năng lực của kế toán viên. Lịch sử phát triển của kế toán các nước cho thấy, sự phát triển của kế toán có liên quan đến mức độ giáo dục và chuyên nghiệp của kế toán viên (Frederick và cộng sự, 2002). Trên góc độ công bố thông tin, năng lực của kế toán viên ảnh hưởng đến khả năng soạn thảo BCTC để công bố thông tin một cách hợp lý. Ở các nước theo mô hình Anglo-Saxon, việc công bố thông tin có tính linh hoạt về biểu mẫu và quan trọng nhất là hướng đến thông tin trung thực và hữu ích cho người sử dụng. Do vậy, tác động của năng lực người làm kế toán ảnh hưởng rất lớn.

Ngược lại, ở các nước theo mô hình châu Âu lục địa thì các biểu mẫu về trình bày luôn được qui định thống nhất nên tác động của năng lực nhân viên kế toán rất khó dự đoán. Ở Việt Nam, việc công bố thông tin ở các DNNVV theo khuôn mẫu qui định theo chế độ kế toán, ngoại trừ một số nội dung liên quan đến phần thuyết minh. Kết quả điều tra thử nghiệm đã phần nào cho thấy năng lực của kế toán cũng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin, dù hiện nay việc soạn thảo BCTC được hỗ trợ rất nhiều từ tài liệu hướng dẫn của Bộ tài chính, sự hỗ trợ phần mềm kế toán… Do vậy, chúng tôi cũng xem xét nhân tố này ảnh hưởng đến việc công bố thông tin ở doanh nghiệp.

 

Yêu cầu và nhận thức của chủ doanh nghiệp. Kế toán được xem là một công cụ của người quản lý để điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên không vì thế mà doanh nghiệp không có nghĩa vụ công bố thông tin kế toán ra bên ngoài, nhất là trường hợp sự xung đột về lợi ích giữa người chủ, người quản lý với các bên có liên quan đến doanh nghiệp. Việc bất cân xứng thông tin là lý do mà chuẩn mực kế toán thường yêu cầu công bố thông tin tài chính đủ để người sử dụng đánh giá vị trí và các triển vọng tương lai của một tổ chức. Tuy nhiên, vận dụng nó như thế nào luôn là một câu hỏi

trong thực tiễn vì nhiều DNNVV ngại công bố thông tin, xem đó như là việc tiết lộ đường hướng kinh doanh của một tổ chức. Kết quả điều tra thử nghiệm đã cho thấy ý thức của người chủ doanh nghiệp cũng như bản thân người quản lý ở DN cũng chưa chú trọng trong việc công bố thông tin, nhất là thông tin giải trình qua thuyết minh BCTC đã ảnh hưởng đến việc công bố thông tin.
Trong nhiều trường hợp, việc công bố BCTC hàng năm cũng chỉ là hình thức để đối phó với cơ quan thuế trong quá trình kê khai thuế định kỳ. Kết hợp với cơ sở lý thuyết và kết quả thử nghiệm, chúng tôi cho rằng đây là một nhân tố dự tính ảnh hưởng nhiều đến mức độ công bố thông tin ở các DNNVV ở Việt Nam.

Vai trò của kiểm toán/thuế. Những nghiên cứu nguyên thủy về vấn đề này thường liên quan đến mối quan hệ giữa công bố thông tin minh bạch, có chất lượng, theo tiêu chuẩn quốc tế với với các tổ chức kiểm toán (DeAngelo, 1981; Malone và cộng sự, 1993). Do vậy, các nhà quản lý thường chọn các công ty kiểm toán lớn để khẳng định tính minh bạch và chính xác của thông tin công bố.

Từ thực tiễn đó trên thế giới, liên hệ với điều kiện Việt Nam, chúng tôi cho rằng, nếu BCTC của một DN được kiểm toán thì mức độ tuân thủ về công bố thông tin sẽ cao hơn những DN không được kiểm toán. Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam, BCTC của DNNVV chưa yêu cầu phải kiểm toán nên điều này ảnh hưởng đến chất lượng thông tin công bố trên BCTC. Ngoài ra, kết quả điều tra thử nghiệm còn cho thấy việc chưa kiểm tra, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước cũng đã ảnh hưởng đến sự tuân thủ về công bố thông tin ở chính các DNNVV. Từ những cơ sở lý thuyết và điều tra thử nghiệm, chúng tôi cho rằng cần phải xem xét yếu tố này như là một nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin. Nó cũng sẽ tác động đến nhận thức của người chủ để họ lại áp lực đến kế toán viên trong việc soạn thảo BCTC của doanh nghiệp mình.

Toàn bộ các nhân tố dự tính trên được kết hợp và thể hiện qua hình 1 mà tác động cuối cùng của nó là lợi ích của việc công bố thông tin. Lợi ích này dự tính được xem xét ở khả năng tiếp cận các khoản tín dụng từ ngân hàng, tính minh bạch của thông tin sẽ giúp tăng hình ảnh của doanh nghiệp trong cộng đồng kinh doanh, trách nhiệm của DN đối với xã hội và từ đó sẽ tạo điều kiện mở mang hoạt động kinh doanh.

Kết luận về mô hình công bố thông tin

Trên đây chỉ là một mô hình dự kiến từ những nghiên cứu lý thuyết và thử nghiệm. Các bước tiếp theo cần tiến hành là đo lường các biến và tiến hành điều tra thực nghiệm số lớn để xem xét tác động các nhân tố đối với việc công bố thông tin. Mô hình cấu trúc được xem là thích hợp nhất để xác định nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trong các DNNVV. Chúng tôi cho rằng, nếu những nhân tố này thực sự có ý nghĩa trong mô hình, kết quả nghiên cứu sẽ là nền tảng để phát triển kế toán trong các DNNVV trên nhiều khía cạnh.
Ở góc độ quản lý vĩ mô: cần xem xét yêu cầu kiểm toán các DNNVV hay có sự chấn chỉnh công tác báo cáo ở các DN để đảm bảo tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh. Ở góc độ doanh nghiệp, cần xem xét việc công bố thông tin không chỉ là nghĩa vụ mà còn là cơ hội để DN có thể tiếp cận các cơ hội thu hút vốn, mở mang kinh doanh của mình.

5/5 - (1 vote)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo