Tác động của công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động

Bài viết xem xét tác động của công nghệ và hoạt động R&D đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam

Tác động của công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động

Tác động của công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã và đang tạo ra cơ hội thuận lợi cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn khoảng cách về kinh tế so với các nước phát triển. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào gia tăng vốn đầu tư, sử dụng nguồn lao động giá rẻ và nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo đã không còn phù hợp. Việt Nam cần phải tìm kiếm mô hình tăng trưởng mới tất yếu dựa vào khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển tri thức. Trong đó, yếu tố công nghệ sử dụng trong quá trình sản xuất sẽ tác động tới năng suất lao động, từ đó kéo theo sự dịch chuyển lao động từ khu vực này tới khu vực khác.
Về công nghệ, các lựa chọn khác nhau có thể được phân loại theo mức độ quan trọng và mức độ ảnh hưởng của các khoản đầu tư công nghệ vào doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thể tiếp cận công nghệ không chỉ từ các nguồn nội bộ thông qua các hoạt động R&D mà còn từ các nguồn bên ngoài thông qua chuyển giao công nghệ, các thỏa thuận cấp phép kỹ thuật hoặc nhập khẩu tư liệu sản xuất (Tambunan, 2009).
Tuy nhiên, các doanh nghiệp không thể đủ khả năng để phát triển hoặc tạo ra tất cả các công nghệ chiến lược cần thiết thông qua các hoạt động R&D nội bộ do rủi ro cao, chi phí cao và thời gian hạn chế (Cho & Yu, 2000; Whangthomkum & cộng sự, 2006). Trong khi đó, mua công nghệ bên ngoài là mua công nghệ của các doanh nghiệp trong nước, các trường đại học hoặc các doanh nghiệp nước ngoài. Điều này không chỉ giúp các doanh nghiệp tránh phải chịu các chi phí và rủi ro liên quan đến phát triển trong nước (Jones & Jain, 2002), mà còn giải quyết các yêu cầu của khách hàng về các dịch vụ kịp thời và tốt hơn, nhằm nâng cao tính phức tạp của sản phẩm và duy trì lợi thế cạnh tranh trong điều kiện cạnh tranh gia tăng áp lực hơn nữa (Jagoda & cộng sự, 2010).
Trên thực tế, nhiều công ty lựa chọn mua lại công nghệ bên ngoài để cập nhật và mở rộng cơ sở kiến thức công nghệ, chọn một chiến lược mua công nghệ chính để đảm bảo rằng chi phí có thể tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là các doanh nghiệp có khả năng vừa mua công nghệ bên ngoài vừa triển khai các hoạt động R&D hay không?
Với các vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu tác động của công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động (CDCCLĐ) là thật sự cần thiết, đặc biệt đối với ngành công nghiệp chế biến chế tạo (CNCBCT) Việt Nam là ngành thu hút được nhiều lao động nhất với lợi thế nhân công giá rẻ. Tuy nhiên, do quá trình ứng dụng công nghệ vào trong sản xuất sẽ làm cho ngành này có thể quay trở lại với các nước phát triển. Kết quả là sự biến động khó lường trong lực lượng lao động của ngành. Vì vậy, nghiên cứu này sẽ phân tích vai trò của công nghệ đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam.

Mối quan hệ giữa công nghệ với hiệu quả doanh nghiệp

Nghiên cứu về công nghệ và vai trò của nó tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã được đề cập rất nhiều.
Một số nghiên cứu cho rằng công nghệ có tác động tích cực đến hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ nghiên cứu của Zahra (1996) chỉ ra việc mua công nghệ bên ngoài có liên quan tích cực tới hiệu quả của doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiên cứu của Jae-Seung Han & Sang-Yong Tom Lee (2012) điều tra tác động tích cực của mua công nghệ bên ngoài đối với giá trị thị trường của các công ty.
Ngược lại, có những nghiên cứu lại cho rằng việc mua công nghệ bên ngoài có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể, nghiên cứu của Jones & cộng sự (2001) đưa ra kết quả mua công nghệ có tác động tiêu cực đến phát triển sản phẩm, thị trường và tài chính của doanh nghiệp, nhưng các nguồn lực trong nội bộ doanh nghiệp có tác động bổ sung cho hoạt động mua công nghệ, từ đó tăng hiệu suất sản phẩm của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Ki H.Kang & cộng sự (2015) lại cho rằng mua công nghệ có mối quan hệ hình chữ U ngược với hiệu suất đổi mới công nghệ và điều đó không bổ sung cho hoạt động R&D nội bộ. Trong khi đó, nghiên cứu của Williamson (1985) chỉ ra vai trò của mua công nghệ bên ngoài tới hoạt động đổi mới và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cho dù có thể là tác động tích cực hay tiêu cực, và việc mua công nghệ đó cũng có thể là tác động bổ sung hoặc thay thế cho hoạt động R&D nội bộ doanh nghiệp.
Như vậy, phần này cho thấy các yếu tố cấu thành công nghệ, bao gồm việc mua công nghệ bên ngoài hoặc các sản phẩm từ hoạt động R&D. Hơn nữa, mua công nghệ và hoạt động R&D có thể có tác động bổ sung hoặc thay thế cho nhau, từ đó làm tăng hoặc giảm hiệu quả tác động của công nghệ tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp.

Vai trò của công nghệ tới chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

Nghiên cứu cụ thể về vai trò của công nghệ tới xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm.
Tiếp cận dưới khía cạnh cầu, nhiều công trình nghiên cứu cho rằng chính yếu tố khoa học công nghệ đã tác động trực tiếp tới nhu cầu lao động, kéo theo sự dịch chuyển lao động giữa các ngành của nền kinh tế. Nghiên cứu của Fabricant (1942) cho thấy: chuyển dịch cơ cấu lao động là một trong những nguyên nhân dẫn tới thay đổi cơ cấu và thay đổi năng suất lao động của ngành cũng như tổng thể nền kinh tế.
Điều này được lý giải là do sự xuất hiện của các ngành, lĩnh vực mới hay cải tiến và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sẽ tạo việc làm mới và hấp thụ một phần lao động bị giảm đi trong các ngành, lĩnh vực cũ. Fourastie (1949) cho rằng chính tiến bộ công nghệ tác động trực tiếp tới yêu cầu về người lao động và thu nhập thực tế bình quân đầu người. (tham khảo Kruger, J., 2008). Các ngành có tốc độ tăng năng suất và tiến bộ công nghệ cao sẽ thu hút nhiều lao động hơn các ngành có công nghệ và tốc độ tăng năng suất thấp.
Ngoài ra, nghiên cứu của Charles & cộng sự (2013) và Jaimovich & Siu (2012) bổ sung thêm rằng tiến bộ công nghệ đã làm sụt giảm liên tục các công việc trong ngành sản xuất và dẫn tới một số ngành biến mất khỏi thị trường lao động.
Ở Việt Nam, gần đây có một số nghiên cứu điển hình với mục tiêu đánh giá các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động như nghiên cứu của Vu Thi Thu Huong (2017) và Phí Thị Hằng (2014). Tác giả đầu tiên đã sử dụng bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp để ước lượng mô hình đánh giá các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội ngành ngành công nghiệp chế biến chế tạo, tuy nhiên, chưa đánh giá tới vai trò của yếu tố công nghệ. Nghiên cứu thứ hai chỉ dựa vào phân tích nghiên cứu tổng quan và thực trạng trên địa bàn nghiên cứu từ đó chỉ ra các yếu tố tác động đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động bao gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, năng suất lao động, trình độ chuyên môn kỹ thuật, yếu tố dân số và yếu tố hội nhập quốc tế.
Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra tác động của yếu tố công nghệ sẽ làm dịch chuyển lao động theo hướng từ ngành nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ; chuyển dịch từ ngành nông nghiệp, công nghiệp sang ngành dịch vụ ở giai đoạn phát triển cao hơn hay từ ngành công nghệ thấp sang công nghệ cao. Tuy nhiên, cơ chế dẫn tới quá trình chuyển dịch này lại được tiếp cận không giống nhau.
Cụ thể, yếu tố công nghệ có thể làm xuất hiện các ngành lĩnh vực mới hay công nghệ giúp mở rộng quy mô sản xuất làm tăng nhu cầu lao động sẽ dẫn tới xu hướng chuyển dịch lao động sang các ngành này. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu, nhưng kiến thức về tác động của công nghệ đối với chuyển dịch cơ cấu lao động vẫn còn khan hiếm.
Khác với các nghiên cứu trước, khi sử dụng yếu tố công nghệ, nghiên cứu sẽ tập trung vào nhiều khía cạnh của công nghệ như tiếp thu công nghệ bên ngoài hoặc công nghệ thu được từ hoạt động R&D nội bộ. Nếu quyết định theo phương án đầu tiên, doanh nghiệp nên mua công nghệ ở đâu (trong nước hay nước ngoài, trường đại học, viện, trung tâm nghiên cứu)? Những vấn đề này khác nhau đối với từng quốc gia và đối với từng thời kỳ phát triển. Do đó, cần có những nghiên cứu sâu hơn về tác động của công nghệ đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam.
Lý thuyết về công nghệ và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp
Đổi mới công nghệ từ lâu đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế với các hướng tiếp cận khác nhau.
Các nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố tác động đến khả năng tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp như những ưu đãi về kinh tế khi áp dụng công nghệ mới, quy mô doanh nghiệp, hoạt động R&D, thị phần và cấu trúc của thị trường, loại hình sở hữu của doanh nghiệp (Griliches, 1957). Ngoài ra, có một số yếu tố làm cản trở khả năng tiếp cận công nghệ mới của doanh nghiệp như khó khăn về hoạt động tài chính hoặc rào cản nhập khẩu.
Bên cạnh đó, Watanabe & cộng sự (2001) cho rằng đánh giá tác động của yếu tố công nghệ có thể bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố: (i) khả năng hấp thụ (absorption capacity) thể hiện khả năng một doanh nghiệp hấp thụ công nghệ từ doanh nghiệp khác và (ii) khả năng đồng hóa (assimilation capacity) thể hiện khả năng doanh nghiệp có thể hiểu và sử dụng được công nghệ đã hấp thụ từ doanh nghiệp khác.
Các nhân tố này thường bị ảnh hưởng bởi trình độ giáo dục, sự đổi mới của vùng, sự phát triển kinh tế và thị trường tài chính, chất lượng nguồn nhân lực và khoảng cách công nghệ (Cohen & Levinthal, 1989). Đây là lý do tại sao nhóm các biến tương tác giữa công nghệ và khả năng hấp thụ công nghệ được lựa chọn đưa vào trong mô hình nghiên cứu.
Ngoài ra, tác động của yếu tố công nghệ cũng có thể bị ảnh hưởng bởi hoạt động R&D của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Ki H. Kang & cộng sự (2015) chỉ ra rằng hoạt động R&D nội bộ có tác động tiêu cực đến việc tiếp thu công nghệ bên ngoài của doanh nghiệp. Ngược lại, Kuen – Hung Tsai & Jiann – Chuyan Wang (2005) kết luận rằng tác động tích cực của yếu tố công nghệ tăng theo mức độ nỗ lực R&D của doanh nghiệp. Cùng quan điểm, nghiên cứu của Ceccagnoli & Higgins (2008) cho rằng việc mua công nghệ từ bên ngoài là chiến lược bổ sung cho các công ty nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động R&D của doanh nghiệp.
Nghiên cứu này đánh giá vai trò của công nghệ đối với chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam với khung lý thuyết như sau như trong Hình 1.

Vai trò của công nghệ đối với chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp

Hình 1: Khung lý thuyết


Mô hình trên cho thấy chuyển dịch cơ cấu lao động bị ảnh hưởng bởi việc mua công nghệ và hoạt động nghiên cứu phát triển R&D của doanh nghiệp. Hơn nữa, biến R&D là một biến kiểm soát trong mốiquan hệ giữa biến mua công nghệ và chuyển dịch cơ cấu lao động.

Đo lường thay đổi công nghệ và chuyển dịch cơ cấu lao động

Đo lường thay đổi công nghệ
Tổng hợp từ các nghiên cứu cho thấy thay đổi công nghệ có thể hiểu theo hai cách tiếp cận khác nhau. Thứ nhất, nhiều nghiên cứu cho rằng thay đổi công nghệ là khả năng để có thể sản xuất được nhiều sản phẩm hơn với cùng một lượng đầu vào như nhau. Loại công nghệ theo cách này được đo lường bằng năng suất các nhân tố tổng hợp TFP – yếu tố mà không thể giải thích bằng những thay đổi về số lượng và chất lượng đầu vào. Thứ hai, công nghệ có thể được hiểu là các máy móc, trang thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất. Để đo lường loại công nghệ này, nghiên cứu đưa ra biến mua công nghệ và hoạt động R&D của doanh nghiệp. Theo Capon & Glazer (1987), mua công nghệ của doanh nghiệp là toàn bộ giá trị mua công nghệ từ các doanh nghiệp khác. Vì vậy, tổng chi tiêu của việc mua công nghệ được định nghĩa là cầu công nghệ hay mua công nghệ trong nghiên cứu này. Hơn nữa, các doanh nghiệp có thể mua công nghệ từ doanh nghiệp khác, các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học.
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào phương pháp đo lường thứ hai để tránh những hạn chế của phương pháp đo lường TFP.
Chỉ số đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động – Chỉ số Lilien
Chỉ số Lilien đo lường độ lệch chuẩn tương đối của tăng trưởng việc làm trong khu vực so với tăng trưởng chung trong khu vực. Tuy nhiên, nghiên cứu này tập trung vào sự thay đổi cơ cấu lao động giữa các phân ngành trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam, do đó, chỉ số Lilien thể hiện mức độ thay đổi từ tăng trưởng việc làm của các phân ngành sang lĩnh vực công nghiệp chế tạo.

Kết luận hoạt công nghệ và hoạt động R&D đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp

Các kết quả ước lượng ở trên cho thấy, mua công nghệ bên ngoài có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành. Ngược lại, hoạt động R&D của doanh nghiệp ít được thực hiện ở các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến chế tạo.
Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra, tác động của mua công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam nếu mua máy móc công nghệ bao gồm công nghệ sản xuất và công nghệ truyền thông tiên tiến, hiện đại thì sẽ kìm hãm quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành, trong khi nếu mua của các doanh nghiệp tư nhân trong nước thì sẽ có kết quả ngược lại.
Trong nghiên cứu này, một phát hiện nữa được chỉ ra đó là việc mua công nghệ bổ sung cho hoạt động RD của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình CDLĐ nội ngành. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả mang lại từ việc mua công nghệ và hoạt động R&D của các doanh nghiệp FDI.
Để khắc phục những vấn đề này, đầu tiên chính phủ phải xây dựng hệ thống giáo dục đào tạo tạo ra nguồn đầu ra là những người lao động có trình độ đáp ứng với nhu cầu lao động của doanh nghiệp. Đồng thời, các doanh nghiệp phải có những chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho người lao động được nâng cao trình độ tay nghề trong quá trình làm việc. Thứ hai, việc lựa chọn mua công nghệ nào cho doanh nghiệp cũng cần phải được cân nhắc cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp. Cuối cùng, chính phủ cần phải có những chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp FDI tận dụng nguồn vốn dồi dào của mình để thúc đẩy hoạt động R&D, từ đó có tác động tốt tới hiệu quả doanh nghiệp nói chung và thúc đẩy hoạt động chuyển dịch cơ cấu lao động nói riêng.

5/5 - (4 votes)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo