Cơ hội đối với Việt Nam khi tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam 2021

Bài viết cung cấp nội dung: Cơ hội và thách thức của tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam 2021

Cơ hội đối với Việt Nam khi tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam 2021

Tự do hóa tài khoản vốn

Cơ hội đối với Việt Nam khi tự do hóa tài khoản vốn

Tự do hóa tài khoản vốn là quá trình tiến tới xóa bỏ hoàn toàn rào cản đối với sự di chuyển của các luồng vốn. Các chủ thể trong nền kinh tế có thể thực hiện các hoạt động như đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư vào giấy tờ có giá, tín dụng quốc tế nhằm đạt hiệu quả cao hoặc thỏa mãn một số mục đích kinh tế khác.
Sự kiện gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007 đã mở ra một xu thế phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam. Theo đó, tự do hóa tài khoản vốn vừa là yêu cầu tất yếu song cũng mở ra nhiều cơ hội đối với Việt Nam.
Thứ nhất, Việt Nam có cơ hội tiếp cận vốn nước ngoài với chi phí thấp. Vốn đầu tư là một trong những yếu tố cơ bản quyết định tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Đặc điểm chung của những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là sự thiếu hụt vốn đầu tư trong nước. Điều này sẽ làm giảm khả năng tăng trưởng và phát triển đối với những nền kinh tế đóng cửa. Do vậy, khi tài khoản vốn được tự do hóa, Việt Nam sẽ có cơ hội được tiếp cận lượng vốn nước ngoài với chi phí thấp, đây chính là nguồn bổ sung quan trọng đáp ứng nhu cầu đầu tư cho nền kinh tế. Thu hút vốn chi phí thấp là một yếu tố rất có ý nghĩa đối với các cá nhân, doanh
nghiệp và Chính phủ Việt Nam trong hoạt động vay nợ và đầu tư. Bởi lẽ chi phí vốn thấp sẽ làm tăng khả năng sinh lời cũng như giảm gánh nặng nợ cho các chủ thể trong nền kinh tế.
Thứ hai, Việt Nam có cơ hội tiếp cận với trình độ quản lý và khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới. Cơ hội này có được khi Việt Nam thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Thông qua các dự án ODA và FDI, VN thực hiện tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài đồng thời có sự giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý với các nước phát triển. Đây là cơ hội rất lớn để Việt Nam có thể nâng cao năng lực quản lý và ứng dụng thành công khoa học công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn sẽ được nâng cao. Khi không có rào cản, dòng vốn sẽ di chuyển tới những nơi có hiệu quả sử dụng vốn cao nhất. Điều này thể hiện tính năng động và linh hoạt của dòng vốn đồng thời góp phần hình thành cơ chế điều tiết vốn tối ưu cho nền kinh tế. Để thu hút được các dòng vốn được di chuyển tự do, Việt Nam buộc phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Bên cạnh đó, các chủ thể trong nền kinh tế sẽ có nhiều cơ hội đầu tư nhằm mang lại lợi ích cao nhất.

Thách thức đối với Việt Nam khi tự do hóa tài khoản vốn

Tự do hóa tài khoản vốn đòi hỏi tái cấu trúc hệ thống tài chính trong nước

+Thứ nhất, hệ thống NHTM chưa phát triển bền vững
Dòng vốn nước ngoài chảy vào thị trường trong nước được hấp thụ thông qua hệ thống NHTM. Nếu thực hiện tự do hóa tài khoản vốn khi hệ thống NHTM chưa vững mạnh sẽ gây ra hai hiệu ứng: thứ nhất, dòng vốn vào không được phân bổ có hiệu quả; thứ hai, chảy máu ngoại tệ không kiểm soát. Cả hai hiệu ứng này đều làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn, bất ổn.
Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống NHTM được đánh giá là chưa phát triển bền vững. Điều này được thể hiện ở quy mô vốn chủ sở hữu và tỷ lệ an toàn vốn chủ sở hữu ở mức thấp; tỷ lệ nợ xấu cao và năng lực quản trị rủi ro yếu kém.
+Thứ hai, Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, thực hiện chức năng tích lũy và chu chuyển vốn trong nền kinh tế. Cũng như các NHTM, thị trường chứng khoán là một kênh hấp thụ dòng vốn ngoại chảy vào khi tài khoản vốn được tự do hóa. Thị trường chứng khoán trong nước có phát triển mới thực hiện phân bổ và sử dụng vốn có hiệu quả, bên cạnh đó sự phát triển của thị trường chứng khoán còn góp phần thúc đẩy sự minh bạch của nền kinh tế và nâng cao hiệu quả điều hành giám sát của các cơ quan quản lý.
Ở Việt Nam hiện nay, thị trường chứng khoán được đánh giá là chưa phát triển, được thể hiện ở: (i) Quy mô giao dịch trên thị trường vẫn thấp; (ii) Chủ thể tham gia thị trường chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân thiếu chuyên nghiệp; (iii) Công ty phát hành trên thị trường chưa được xếp hạng tín nhiệm bởi tổ chức chuyên nghiệp.
+ Thứ ba, cơ chế giám sát tài chính chưa hiệu quả.
Việc xây dựng một cơ chế giám sát tài chính thận trọng và hiệu quả sẽ có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định của hệ thống. Cơ chế giám sát tài chính được xây dựng với hai chức năng cơ bản: (i) thực hiện giám sát hoạt động của thị trường tài chính; (ii) phân tích, dự báo, cảnh báo mức độ an toàn của hệ thống tài chính và nguy cơ rủi ro đối với thị trường tài chính. Cả hai chức năng trên của cơ chế giám sát tài chính chỉ thực sự đạt hiệu quả khi được thực hiện trên một nền tảng cơ sở pháp luật đầy đủ và đồng bộ. Đây thực sự là một thách thức lớn đối với Việt Nam hiện nay, bởi lẽ cả cơ chế giám sát tài chính cũng như nền tảng luật pháp ở Việt Nam đều chứa đựng rất nhiều hạn chế và bất cập

Nguy cơ gia tăng tình trạng Đô-la hóa nền kinh tế khi tiến hành tự do hóa tài khoản vốn

Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng đôla hóa mức độ khá cao ở Việt Nam hiện nay là do luồng ngoại tệ chảy vào trong nước quá nhiều song không được chuyển đổi ra nội tệ để thực hiện thanh toán và cất trữ. Do vậy, khi Việt Nam mở cửa thị trường vốn, dòng vốn ngoại bao gồm đầu tư trực tiếp FDI, đầu tư gián tiếp FII, vốn vay nợ nước ngoài sẽ chảy vào quốc gia không hạn chế. Lượng ngoại tệ này nếu không được sử dụng trong sản xuất sẽ tồn tại dưới hình thức tiền gửi ngân hàng hoặc trong các giao dịch kinh tế, điều này sẽ càng làm cho tình trạng đôla hóa trầm trọng hơn.

Sự tham gia của các nhà đầu cơ quốc tế gây bất ổn thị trường tài chính

Khi thị trường vốn được mở cửa hoàn toàn sẽ có sự tham gia của các nhà đầu tư quốc tế. Nếu những nhà đầu tư này mua tiền tệ hoặc chứng khoán với số lượng lớn nhằm mục đích đạt được lợi ích trong tương lai khi đồng tiền/chứng khoán tăng giá thì họ sẽ trở thành các nhà đầu cơ. Đối với các nhà đầu cơ trên thị trường ngoại hối, thông thường họ sẽ lựa chọn thực hiện hành vi đầu cơ ở những thị trường tự do hóa tài khoản vốn trong bối cảnh các điều kiện tiền đề chưa hội tụ đầy đủ, đồng thời Nhà nước duy trì chế độ tỷ giá định giá quá cao hoặc quá thấp cho đồng nội tệ.
Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng Thái Lan năm 1997 chỉ ra rằng, Thái Lan đã mở cửa thị trường vốn quá sớm trong khi các điều kiện tiền đề còn nhiều hạn chế cùng với chế độ tỷ giá cố định giữa USD/VND được duy trì trong một thời gian dài. Trên thị trường chứng khoán, hành vi mua bán chứng khoán của các nhà đầu cơ chuyên nghiệp quốc tế có thể gây lũng đoạn thị trường, tạo bong bóng giá chứng khoán từ đó ảnh hưởng đến sự ổn định của thị trường.

Nguy cơ mất tính thanh khoản do sự rút vốn quy mô lớn của các dòng vốn ngắn hạn

Khi thực hiện tự do hóa tài khoản vốn, dòng vốn sẽ được tự do di chuyển tới những nơi có tỷ suất sinh lời cao hơn. Do vậy, khi lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất nước ngoài hoặc khi môi trường đầu tư trong nước bất ổn, sẽ có một lượng vốn lớn bằng ngoại tệ di chuyển ra nước ngoài, đặc biệt là các dòng vốn ngắn hạn.
Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, khi đầu tư vào trong nước họ mang theo ngoại tệ sau đó đổi ra VND. Khi rời Việt Nam, họ được phép chuyển đổi từ VND sang ngoại tệ để mang ra đầu tư ở thị trường khác. Nguy hiểm hơn, lượng tiền mang ra bao giờ cũng lớn hơn lúc vào do họ thu được lợi nhuận trong quá trình đầu tư, từ đó sẽ hút theo một lượng lớn ngoại tệ của Việt Nam ra nước ngoài. Dòng vốn ngoại tệ đi ra nhiều sẽ gây tăng giá ngoại tệ từ đó gây áp lực lên giá hàng hóa nhập khẩu, lạm phát và nợ nước ngoài của Việt Nam.

Các đề xuất nhằm thực hiện thành công tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam

Dựa trên việc phân tích những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam, một số đề xuất được đưa ra góp phần thực hiện thành công lộ trình tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam:
Thứ nhất, Việt Nam cần chuẩn bị tốt các điều kiện tiền đề trước khi tiến hành tự do hóa tài khoản vốn: Tăng cường sức mạnh cho hệ thống các NHTM
trong nước; Phát triển thị trường vốn đồng thời xây dựng một cơ chế giám sát tài chính hiệu quả.
Đối với hệ thống các NHTM: Cần phải nâng cao vị thế và năng lực tài chính; Tăng quy mô và hiện đại hóa hoạt động kinh doanh; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Nâng cao năng lực quản trị rủi ro; Đổi mới mô hình tổ chức và Thực hiện tái cấu trúc hệ thống NHTM một cách khoa học, hợp lý,…
Đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán: Gia tăng số lượng và chất lượng hàng hóa trên thị trường; Đẩy mạnh công khai, minh bạch hóa và đầy đủ thông tin trên thị trường; Nâng cao chất lượng của các nhà đầu tư trên thị trường; Hình thành và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh,…
Đối với cơ chế giám sát tài chính: Tăng cường năng lực giám sát cho các cơ quan giám sát chuyên ngành bao gồm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư khoa học công nghệ hiện đại phục vụ cho công tác thu thập và xử lý thông tin; Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về giám sát; Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giám sát chuyên ngành,..
Thứ hai, tự do hóa tài khoản vốn cần được thực hiện với một lộ trình thận trọng. Trước tiên, nên thực hiện tự do hóa đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Bởi vì đây là nguồn vốn ổn định, được đầu tư trong một thời gian dài, đồng thời trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, tự do hóa không có nghĩa là thu hút một cách ồ ạt kể cả với những dự án có ảnh hưởng không tốt đến văn hóa xã hội đặc biệt là vấn đề môi trường.
Việt Nam cần có những biện pháp quản lý chặt chẽ để hạn chế tới mức tối đa những tác động xấu của FDI đối với nền kinh tế và xã hội. Bước hai là tiến hành tự do hóa đối với tín dụng quốc tế. Dòng vốn ngắn hạn FII phải là bước cuối cùng trong lộ trình tự do hóa tài khoản vốn. Thậm chí nếu chưa sẵn sàng tự do hóa nguồn vốn này, chúng ta vẫn cần thiết phải đưa ra các biện pháp quản lý và kiểm soát chặt chẽ.
Thứ ba, tự do hóa tài khoản vốn cần được tiến hành kết hợp chặt chẽ và hiệu quả với các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ nhằm xây dựng một môi trường đầu tư lành mạnh, hấp dẫn đồng thời tạo nền tảng tốt cho việc điều tiết nền kinh tế khi thị trường vốn được mở cửa hoàn toàn.
Như vậy, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, với quá trình chu chuyển vốn giữa các quốc gia diễn ra ngày càng nhanh và mạnh cả về quy mô và tốc độ, tự do hóa tài khoản vốn là cái đích mà hầu hết các quốc gia đều mong muốn hướng tới. Tuy nhiên, nguyên tắc tự do hóa tài khoản vốn phải đảm bảo tự do hóa có trật tự, phù hợp với kế hoạch cũng như điều kiện của từng quốc gia.
Để tự do hóa tài khoản vốn được thành công, Việt Nam cần thực hiện một lộ trình hết sức thận trọng kết hợp với cải cách sâu rộng và triệt để nhiều mặt của nền kinh tế như cải cách hệ thống NHTM, phát triển thị trường chứng khoán cũng như xây dựng một cơ chế giám sát tài chính hiệu quả.

5/5 - (1 vote)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo