Đặc điểm hành vi tiêu dùng bền vững

Đặc điểm hành vi tiêu dùng bền vững

standard behavior

Hành vi tiêu dùng bền vững

Tiêu dùng bền vững là cách thức sử dụng sản phẩm có hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng đến cuộc sống của thế hệ sau (Brundtland, 1987). Các hành vi như tiêu dùng các thực phẩm tốt cho sức khỏe, tiết kiệm điện nước, không hút thuốc lá, không uống rượu bia, các hoạt động nâng cao tuổi thọ, mua sản phẩm thân thiện môi trường… đã nhận được sự quan tâm của hầu hết các phương tiện truyền thông trong nước. Tuy nhiên, trong khi một bộ phận người tiêu dùng quan tâm hưởng ứng, một bộ phận khác vẫn còn thờ ơ do thói quen tiêu dùng bị chi phối bởi phong tục, tập quán, văn hóa và khả năng kinh tế (Nguyễn Thế Đồng, 2013). Chi tiêu cho các mặt hàng xa xỉ, thực phẩm không rõ nguồn gốc, các loại đồ uống có cồn, nước ngọt, thuốc lá, thức ăn nhanh, hay sưu tầm của ngon vật lạ đã gây tác động không nhỏ đến sự bền vững của môi trường, sức khỏe cộng đồng và chi phí xã hội (Nguyễn Thế Đồng, 2013). Vì vậy nhận diện người tiêu dùng liên quan đến tiêu dùng bền vững là quan trọng để có các chính sách phù hợp, tuy nhiên các thông tin khoa học liên quan là khá hạn chế.
Ở nước ta, chủ đề tiêu dùng bền vững đã thu hút sự quan tâm khá mạnh mẽ từ giới học thuật (ví dụ, Hồ Huy Tựu & cộng sự, 2018; Cái Trịnh Minh Quốc & cộng sự, 2020), nhưng hầu hết các nghiên cứu này tập trung kiểm định các các biến số ảnh hưởng đến ý định mua hoặc hành vi mua đối với một sản phẩm cụ thể (ví dụ, điện, sản phẩm nuôi sinh thái, cá,…), và rất hiếm nghiên cứu khám phá sự khác biệt giữa các nhóm người tiêu dùng về các hành vi tiêu dùng bền vững. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng các biến nhân khẩu học như tuổi, giới tính, học vấn, cấu trúc gia đình, sắc tộc… góp phần đáng kể vào việc giải thích sự khác biệt về các hành vi tiêu dùng bền vững (D’Souza & cộng sự, 2007; Gan & cộng sự, 2008; Memery & cộng sự, 2005). Vì vậy, nghiên cứu này khám phá sự khác biệt về các hành vi tiêu dùng bền vững giữa các nhóm người tiêu dùng Việt Nam theo các đặc điểm nhân khẩu. Đặc biệt, nghiên cứu này bao gồm thêm nghề nghiệp, kết cấu gia đình và nơi cư trú, là các đặc điểm chưa có nghiên cứu nào đề cập đến. Hiểu được sự khác biệt giữa các nhóm tiêu dùng khác nhau là quan trọng để đưa ra các chính sách phù hợp nhằm thay đổi hành vi hướng đến tiêu dùng bền vững (Gwozdz & cộng sự, 2020).

Mục đích của tiêu dùng bền vững

Mục đích của tiêu dùng bền vững là cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của cả người tiêu dùng thế hệ hiện nay và thế hệ mai sau, đồng thời giảm thiểu tác động tới môi trường (Brundtland, 1987). Tiêu dùng bền vững bao gồm nhiều hành động độc lập với nhau (Gilg & cộng sự, 2005). Trong nghiên cứu này, hành vi tiêu dùng bền vững là các hành động tìm kiếm, mua, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của cá nhân, nhóm người tiêu dùng với mục đích giảm thiểu các chất thải gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn cho sức khỏe bản thân và cộng đồng (Nguyễn Hữu Thụ, 2014).
Cụ thể hơn, hành vi tiêu dùng bền vững được cấu trúc gồm 03 thành phần. Thứ nhất, tiêu dùng tiết kiệm liên quan đến việc lựa chọn các sản phẩm hoặc cách thức sử dụng tốn ít nhiên liệu, năng lượng, điện nước, các tài nguyên khác, sử dụng lại bao bì… (Hồ Huy Tựu & cộng sự, 2018). Thứ hai, tiêu dùng tốt cho sức khỏe bao gồm việc chọn mua các sản phẩm hữu cơ, có dán nhãn sinh thái, ăn nhiều rau củ, trái cây và tiết giảm các thành phần không có lợi cho sức khỏe như đường, chất béo… (Verain & cộng sự, 2015). Cuối cùng, hành vi tuân thủ quy định môi trường thể hiện việc thực hiện các hướng dẫn về phân loại rác thải, giữ gìn vệ sinh môi trường khu dân cư, không tiêu dùng các loại sản phẩm bị cấm,… (Bowen & Panagiotopoulos, 2018; Hồ Huy Tựu & cộng sự, 2018).

Các đặc điểm nhân khẩu học hành vi tiêu dùng bền vững.

Theo lý thuyết Marketing, các tiêu chí phân nhóm thị trường là đa dạng, nhưng phổ biến và cơ bản nhất là các đặc điểm nhân khẩu học như tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập, tình trạng hôn nhân… (Memery & cộng sự, 2005).
Tuổi là biến phổ biến nhất trong các nghiên cứu về phân nhóm người tiêu dùng liên quan đến tiêu dùng bền vững ở phương Tây (D’Souza & cộng sự, 2007; Jain & Kaur, 2006). Ví dụ, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng trong khi những người tiêu dùng trẻ tuổi thể hiện mức độ quan tâm cao, những người tiêu dùng lớn tuổi lại thể hiện sự quan tâm không rõ đối với các sản phẩm thân thiện môi trường (Arttachariya, 2012; D’Souza & cộng sự, 2007; Gan & cộng sự, 2008). Các kết quả thiếu nhất quán này là đáng để kiểm định lại trong bối cảnh một nước Châu Á.
Về giới tính, Tikka & cộng sự (2000) cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ về các hành vi tiêu dùng bền vững. Phụ nữ thường mua sản phẩm dán nhãn sinh thái nhiều hơn nam giới vì họ tin rằng chúng tốt hơn cho môi trường và sức khỏe (Gil & cộng sự, 2000). Quy mô số khách hàng nữ chọn mua các sản phẩm này cũng thường cao hơn nam giới (Gil & cộng sự, 2000; Jain & Kaur, 2006). Tuy nhiên, Balderjahn (1998) nhận thấy nam giới lo lắng và nhận thức các vấn đề về môi trường nhiều hơn nữ giới và sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các sản phẩm giảm ô nhiễm môi trường. Sự khác nhau trong quan niệm về vai trò của người phụ nữ trong gia đình giữa các nước phương Tây và phương Đông làm cho việc khám phá sự khác biệt giữa nam và nữ liên quan đến tiêu dùng bền vững trong bối cảnh văn hóa Á Đông mang lại ý nghĩa thiết thực.
Các nghiên cứu trước cũng khẳng định có mối quan hệ giữa thu nhập và hành vi tiêu dùng bền vững.
Ví dụ, hầu hết người tiêu dùng sẵn sàng chi trả cho các sản phẩm thân thiện môi trường, sản phẩm hữu cơ thường có thu nhập trung bình cao (Bloom & Sevilla, 2004; Roitner-Schobesberger & cộng sự, 2008). Tuy nhiên, Laroache & cộng sự (2001) không ủng hộ quan điểm này. Nhóm học giả này cho rằng người có thu nhập cao thường gia tăng tiêu dùng, nhưng họ không hẳn tăng chi tiêu nhiều hơn cho các sản phẩm thân thiện môi trường so với người có thu nhập thấp. Tương tự, Junaedi (2012) thấy rằng những người có thu nhập thấp thì hầu như không chi tiêu cho các sản phẩm thân thiện với môi trường. Gan & cộng sự (2008) cho rằng thu nhập không ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Các kết quả trái ngược nhau là đáng để xem xét sự khác biệt về thu nhập có quan hệ ra sao với mức độ tiêu dùng bền vững của người Việt Nam.
Tiếp đến, học vấn cũng là một yếu tố được chú ý liên quan đến các hành vi tiêu dùng bền vững. Người có học vấn cao thường ứng xử thân thiện với môi trường tốt hơn người có học vấn thấp (Hockett & cộng sự, 2004). Tuy nhiên, cũng có quan điểm ngược lại. Ví dụ, Gil & cộng sự (2000) cho thấy rằng người tiêu dùng thực phẩm hữu cơ có học vấn thấp hơn so với người tiêu dùng thực phẩm phi hữu cơ. Vì vậy, sẽ khó để dự đoán liệu người tiêu dùng Việt Nam với trình độ học vấn khác nhau, mức độ tiêu dùng bền vững của họ khác biệt như thế nào. Điều này đưa đến một kiểm định mức độ tiêu dùng bền vững liên quan đến đặc điểm học vấn là cần thiết.
Các nghiên cứu về xã hội học kết luận rằng yếu tố gia đình là đặc biệt quan trọng liên quan đến các vấn đề về sức khoẻ. Ví dụ, tình trạng hôn nhân có ảnh hưởng đến hành vi chăm sóc gia đình và lựa chọn thực phẩm tốt cho sức khỏe (Exelson, 1986). Tuy nhiên, cấu trúc các gia đình phương Tây thường ít phức tạp với một đến hai thế hệ. Vì vậy, nghiên cứu này muốn khám phá liệu có sự khác biệt về các hành vi tiêu dùng bền vững giữa các hộ gia đình Việt Nam, vốn thường có cấu trúc nhiều thế hệ và phức tạp hơn so với các hộ gia đình ở các nước phương Tây.
Nghiên cứu tôn giáo liên quan đến tiêu dùng bền vững đã được quan tâm khá sớm. Ví dụ, Giáo hội Tây Úc, trong Tuyên ngôn năm 1988 về quốc gia đã đề cập đến sự phát triển bền vững. Nhiều nhà môi trường học tin rằng niềm tin tôn giáo có mối liên hệ chặt chẽ đến sự hiểu biết khoa học, đạo đức và chăm sóc các hệ sinh thái (Kinsley, 1995). Một số nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa sự quan tâm bảo vệ môi trường với tín ngưỡng tôn giáo (Eckberg & Blocker, 1996). Sự khác nhau giữa các tôn giáo liên quan đến thực hiện hành vi tiêu dùng bền vững đã được khám phá, tuy nhiên, rất ít chứng cứ được cung cấp (Chatters, 2000). Vì vậy, việc bao gồm tôn giáo để hiểu sự khác biệt về các hành vi tiêu dùng bền vững của người Việt Nam là quan trọng.
Tóm lại, bên cạnh việc khám phá sự khác biệt giữa những nhóm người tiêu dùng theo các biến nhân khẩu chủ yếu (tuổi, giới tính, học vấn, thu nhập, hôn nhân), nghiên cứu này còn mở rộng thêm các đặc điểm nghề nghiệp, cấu trúc gia đình, tôn giáo và nơi cư trú, và đặc biệt, liên kết các các nhóm này với 03 loại hành vi tiêu dùng bền vững để hiểu đầy đủ hơn về sự khác biệt trong tiêu dùng bền vững giữa các nhóm người tiêu dùng Việt Nam khác nhau.

Nhận xét hành vi tiêu dùng bền vững của người Việt Nam

Nghiên cứu này khám phá sự khác biệt về các hành vi tiêu dùng bền vững giữa các nhóm người tiêu dùng Việt Nam. Bên cạnh việc lần đầu khám phá sự khác biệt theo các biến nhân khẩu truyền thống (tuổi, giới tính, thu nhập, học vấn, hôn nhân gia đình), nghiên cứu còn bao gồm các đặc điểm nơi sinh sống, cấu trúc gia đình, tôn giáo và nghề nghiệp và tìm thấy sự khác biệt về mức độ tiêu dùng bền vững giữa các nhóm theo hầu hết các đặc điểm. Các phát hiện là ý nghĩa đối với các chính sách thúc đẩy hành vi tiêu dùng bền vững của người Việt Nam
Nhóm nữ có hành vi bảo vệ sức khỏe cao hơn so với nhóm nam. Vì vậy thông điệp sức khỏe hướng đến đối tượng nữ có thể hiệu quả hơn. Văn hóa Việt Nam đặt lên vai người phụ nữ trách nhiệm lớn hơn nam giới trong việc chăm sóc sức khỏe gia đình, chẳng hạn thông qua bữa ăn hàng ngày hoặc chăm sóc sức khỏe gia đình. Sức loan tỏa của người phụ nữ có thể là một yếu tố trung gian quan trọng để thúc đẩy các hành vi tốt cho sức khỏe sang nam giới và thế hệ con cháu.
Tiếp đến, nhóm lớn tuổi có hành vi tuân thủ quy định môi trường cao hơn nhóm trẻ tuổi. Đối với người lớn tuổi, sự từng trải, và cũng có thể họ có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn do nghỉ hưu, hoặc tuổi già đối diện với nhiều vấn đề sức khỏe, và sự tiếc nuối môi trường ít bị tàn phá trong quá khứ, làm gia tăng nhận thức và tuân thủ thực hiện các quy định. Các thông điệp mang tính nhận thức là quan trọng đối với nhóm lớn tuổi. Người lớn tuổi, như ông bà trong gia đình nhiều thế hệ (9,29% trong mẫu), có thể là kênh quan trọng thúc đẩy hành vi tiêu dùng bền vững đối với con cháu.
Nhóm thu nhập trung bình hoặc thấp có hành vi bảo vệ sức khỏe và tuân thủ quy định môi trường tốt hơn so với nhóm thu nhập cao. Tính tiết kiệm, lo lắng về chi phí y tế hoặc cố gắng phân bổ chi phí từ nguồn thu nhập thấp buộc nhóm người này phải có lựa chọn toan tính, trong khi nhóm thu nhập cao có khả năng tiêu dùng những sản phẩm tốn kém như máy lạnh, ô tô và tiêu dùng ít phải so đo, khả năng chăm sóc sức khỏe cũng dễ dàng hơn so với nhóm có thu nhập thấp. Vì vậy, các thông điệp truyền thông tiêu dùng bền vững hướng đến nhóm thu nhập cao thường khó thuyết phục hơn đối với nhóm thu nhập thấp. Giải pháp có thể là khuyến khích gia tăng trách nhiệm cộng đồng cao hơn đối với nhóm thu nhập cao bằng các hình ảnh giàu cảm xúc trong cuộc sống của người nghèo, hoặc vận động sự chung tay của họ nhiều hơn đối với các chương trình cộng đồng.
Người có tôn giáo có hành vi bảo vệ sức khỏe cao hơn so với người không có tôn giáo là phù hợp với các giáo lý hướng đến sự an lành, bình an, khỏe mạnh của hầu hết tôn giáo. Đây là những giá trị tôn giáo tốt đẹp có nhiều ý nghĩa đối với cộng đồng. Các thông điệp truyền thông không nhất thiết phải tập trung vào nhóm tôn giáo nào, mà nên chắc lọc các giá trị tôn giáo mang tính thân thiện môi trường sống, hướng đến duy trì sức khỏe vật chất và tinh thần. Điều này không những làm gia tăng sự chấp nhận, sự phấn khích của người có tôn giáo, mà có tính lan truyền chung cho những người không có tôn giáo vì tính chất chân lý của các nội dung các thông điệp, đôi khi không thể nhìn ra bản chất tôn giáo đằng sau các thông điệp đó trong cuộc sống đời thường.
Người có con nhỏ có hành vi bảo vệ sức khỏe, tuân thủ quy định môi trường cao hơn các nhóm còn lại là phù hợp với trách nhiệm làm cha mẹ. Cấu trúc gia đình này là quan trọng, và có thể nhận định rằng nhóm có con nhỏ dễ hấp thụ các quan điểm tiêu dùng bền vững hơn vì họ có trách nhiệm trực tiếp trong việc chăm sóc con cái và ước muốn một môi trường sống tốt đẹp cho thế hệ tương lai.
Người ngoại thành có hành vi bảo vệ sức khỏe cao hơn so với người nội thành. Sự khác biệt này có thể xuất phát ngay từ sở thích ban đầu của người ngoại thành, gần gữi nhiều với thiên nhiên hơn so với người nội thành. Cũng có thể rằng họ là những người trực tiếp sản xuất nên các sản phẩm, nông sản, và vì vậy có ý thức rõ hơn về vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm. Các thông điệp nâng cao sức khỏe có thể phù hợp với đối tượng này. Quan trọng hơn, bản thân nhóm này cũng cần nhận các thông điệp phù hợp để gia tăng ý thức sản xuất các sản phẩm tốt cho sức khỏe, hoặc thông điệp tạo nên sự khoan khoái trong tâm hồn vì sự góp phần
cải thiện sức khỏe cộng đồng của họ.
Cuối cùng, người có nghề nghiệp khác nhau có sự khác nhau về các hành vi tiết kiệm tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe và tuân thủ quy định môi trường. Vì vậy, các chiến lược truyền thông tiêu dùng bền vững cần có sự khác biệt và thích nghi đối với từng nhóm nghề nghiệp. Cũng để ý rằng nhóm làm việc trong văn phòng có mức độ tiêu dùng bền vững cao hơn so với các nhóm khác, vì vậy, truyền thông tiêu dùng bền vững tập trung vào nhóm này có cơ hội thành công và sức lan tỏa mạnh hơn các nhóm khác.

5/5 - (6 votes)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo