Đánh giá dịch vụ tài chính đối với kinh tế – xã hội nông thôn

Bài viết giới thiệu nội dung: dịch vụ tài chính và giải pháp dịch vụ tài chính đối với kinh tế – xã hội nông thôn

Đánh giá dịch vụ tài chính đối với kinh tế – xã hội nông thôn

dịch vụ tài chính nông thôn Việt Nam

Vai trò của các dịch vụ tài chính đối với kinh tế – xã hội nông thôn

Thời gian qua, hoạt động của thị trường tài chính nông thôn đã có những bước phát triển, đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế khu vực nông thôn. Thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ tài chính, thị trường tài chính đã thực hiện các chức năng quan trọng là (i) huy động vốn; (ii) phân bổ vốn cho đầu tư; (iii) tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi thương mại hàng hóa dịch vụ, trở thành một công cụ đắc lực để giảm nghèo và tăng thu nhập.
Về khía cạnh xã hội, các hoạt động thị trường tài chính tạo ra cơ hội cho dân chúng nông thôn– nhất là người nghèo- tiếp cận được với dịch vụ tài chính, tăng cường sự tham gia của họ vào cuộc sống cộng đồng nói chung, tăng cường năng lực xã hội của họ.
Các dịch vụ tài chính nông thôn là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế khu vực nông thôn. Các dịch vụ tài chính là một giải pháp đệm trong những trường hợp như đột nhiên rơi vào tình trạng rủi ro trong kinh doanh, lũ lụt, đau ốm, tai nạn… hay kinh doanh bị trì trệ theo mùa vụ có thể đẩy các gia đình nghèo vào cảnh khó khăn. Họ có thể rút tiền tiết kiệm hoặc vay để chi tiêu thay vì bán một tài sản có thể sinh lời, việc bán tài sản này sẽ làm giảm khả năng tạo thu nhập cho họ trong tương lai.
Việc sử dụng các dịch vụ tài chính cho phép dân cư nông thôn tiếp tục tăng thu nhập và gây dựng tài sản. Trên thực tế, nếu không có việc tiếp cận với các dịch vụ tài chính thì thu nhập, khả năng mua bán và đầu tư của người dân sẽ trở nên thất thường.

Những hạn chế dịch vụ tài chính nông thôn Việt Nam

Có thể nói, thời gian qua, hoạt động thị trường tài chính nông thôn Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của khu vực này, dịch vụ tài chính nông thôn Việt Nam vẫn chưa phát huy tối đa tiềm năng và còn có những hạn chế như sau:
Thứ nhất, chi phí giao dịch trong khu vực nông thôn cao hơn đối với khách hàng. Thực tế, chi phí đầu tư vốn vào khu vực nông thôn cao hơn nhiều so với khu vực thành thị. Khu vực nông thôn thường có mật độ dân số phân tán, cơ sở hạ tầng cứng (đường sá, dịch vụ viễn thông) và cơ sở hạ tầng mềm (giáo dục, y tế) có chất lượng thấp. Bên cạnh đó, dân trí ở khu vực nông thôn chưa cao, nên việc tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng khó hơn. Doanh nghiệp và dân chúng nông thôn có khả năng tiếp cận tới thông tin, dịch vụ giáo dục và đào tạo kinh doanh kém hơn khu vực thành thị. Đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn tới khả năng phát triển dịch vụ tài chính nông thôn. Để phát triển có hiệu quả trong việc tiếp cận dịch vụ tài chính nông thôn cần phải giải quyết được vấn đề giảm chi phí giao dịch đối với khách hàng.
Thứ hai, các dịch vụ tài chính nông thôn chưa đa dạng. Hầu hết các tổ chức tài chính thường tập trung dịch vụ tài chính vào mảng tín dụng cho sản xuất kinh doanh. Thậm chí các nỗ lực để phát triển hoạt động huy động tiết kiệm tỏ ra hạn chế do phạm vi hẹp. Các dịch vụ bảo hiểm hầu như chưa phát triển ở khu vực nông thôn. Dịch vụ bảo hiểm vi mô mới chỉ thâm nhập thị trường và mang tính chất thử nghiệm. Các tổ chức tài chính nông thôn chính thức chỉ cung cấp dịch vụ tài chính mà không có các dịch vụ hỗ trợ đi kèm như đào tạo, hướng dẫn, tư vấn.
Thứ ba, khuôn khổ pháp lý cho việc vận hành hệ thống tài chính khu vực nông thôn chưa thực sự đầy đủ và đồng bộ. Hạn chế này cũng là một trong những lý do chính để khu vực thị trường tài chính phi chính thức ở nông thôn phát triển, nhất là ở những nơi trình độ dân trí, văn hóa còn thấp, người dân chưa được tiếp xúc nhiều với các phương tiện thông tin đại chúng, đã làm giảm đáng kể hiệu quả của việc phát triển kinh tế ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Nhiều tổ chức tài chính muốn hoạt động thành công phải vận dụng linh hoạt cả cơ sở pháp lý chính thức và phi chính thức. Việc áp dụng theo luật lệ chính thức trong khu vực nông thôn thường mất nhiều chi phí và thời gian hơn khu vực đô thị. Các hình thức bảo đảm truyền thống như nhà cửa, đất đai cũng kém hiệu lực hơn. Tại nhiều khu vực nông thôn, dân chúng hầu như không có tài sản gì có thể thế chấp được trừ đất đai đã được cấp sổ hoặc các doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh.
Thứ tư, hoạt động của các tổ chức tài chính phải đối mặt với rủi ro cao. Thị trường tài chính và hàng hóa trong khu vực nông thôn thường bị chia cắt, vì vậy giá cả thường bị biến động mạnh nếu có sự thay đổi nhỏ về cung và cầu. Thu nhập của dân cư nông thôn chủ yếu từ nông nghiệp, các nguồn thu nhập phi nông nghiệp như dịch vụ, công nghiệp, làm công ăn lương thường chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Hơn nữa, rất nhiều hoạt động nông nghiệp và sản xuất kinh doanh khác trong khu vực nông thôn mang tính chất tự cung tự cấp, tính tiền tệ hóa thấp. Vì vậy, dòng tiền mặt tính theo đầu người của khu vực nông thôn thường thấp và kém đa dạng. Để đối mặt với rủi ro này, rất nhiều đơn vị tài chính phi chính thức đã được dân chúng nông thôn sử dụng như các hụi họ, vay mượn bạn bè, vay tư nhân… Tuy nhiên, khu vực phi chính thức thường không hiệu quả khi các rủi ro đa biến xảy ra như lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh. Đây là một trong những thách thức lớn nhất khi các tổ chức tài chính phát triển hoạt động của mình ở khu vực nông thôn.
Thứ năm, hoạt động các tổ chức tài chính phải đối mặt với vấn đề cầu về các dịch vụ tài chính nông thôn có tính thời vụ cao. Do nông nghiệp thường có tính chất thời vụ và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của hoạt động nông nghiệp nên ảnh hưởng rất lớn tới hành vi sử dụng dịch vụ tài chính nông thôn.

Những giải pháp và khuyến nghị nhằm phát triển dịch vụ tài chính khu vực nông thôn Việt Nam

Do khu vực nông nghiệp, nông thôn và thị trường tài chính nông thôn Việt Nam có những đặc điểm đặc thù, nên Đảng và Chính phủ đã xác định phát triển dịch vụ tài chính khu vực nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hội nhập là phát triển nhanh nhưng phải đảm bảo ổn định và bền vững. Vì vậy, nhằm tạo động lực phát triển dịch vụ tài chính khu vực nông thôn cần có những giải pháp đồng bộ mạnh mẽ trong đó nổi bật là:
– Một là, tăng cường vai trò của Chính phủ trong các hoạt động phát triển dịch vụ tài chính khu vực nông thôn.
Xây dựng khung pháp lý, chuẩn mực pháp luật giám sát dịch vụ tài chính chính thức và phi chính thức nhằm tạo điều kiện phát triển lành mạnh các dịch vụ tài chính.
Xây dựng và quản lý các quy hoạch phát triển nông thôn, sử dụng đất, thực hiện chính sách giao đất và cấp chứng nhận quyền sử dụng đất tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động đầu tư và cho vay, thế chấp trong tín dụng nông thôn.
Thực hiện các hỗ trợ trực tiếp tài chính– tín dụng trong những trường hợp đặc biệt, như khắc phục hậu quả thiên tai, phát triển vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo,… thực hiện các chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn.
Hỗ trợ các dịch vụ tài chính như tuyên truyền chính sách vay vốn, triển khai các dịch vụ tài chính như bảo hiểm, các dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh tế khu vực nông thôn đến từng xã, thôn, hộ gia đình…
Trong một số trường hợp, Nhà nước cần mạnh dạn lập các DNNN chuyên bao tiêu sản phẩm nông nghiệp, nhất là chế biến xuất khẩu, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh sản phẩm để tạo thuận lợi và an toàn cho việc thực hiện các dịch vụ tài chính theo và hỗ trợ các hoạt động này.
– Hai là, tăng cường năng lực tài chính, quản trị rủi ro và đổi mới hoạt động của các tổ chức tài chính.
Tái cấu trúc, tăng vốn điều lệ, tăng năng lực tài chính cho các tổ chức tài chính. Cải tiến phương thức hoạt động theo hướng giảm bớt các thủ tục phiền hà, nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng tiếp cận dễ dàng các dịch vụ với chi phí giao dịch thấp.
Tăng cường việc giám sát việc sử dụng dịch vụ tài chính của khách hàng kịp thời phòng tránh rủi ro có thể phát sinh. Ví dụ, trong lĩnh vực tín dụng các ngân hàng cần lập kế hoạch cho vay hoạt động sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý về thời hạn, cơ cấu vốn đầu tư cũng như hạn mức vốn vay, đảm bảo khai thác tiềm năng kinh tế tự nhiên của mỗi vùng. Tăng cường khả năng thẩm định dự án, phương án sản xuất kinh doanh nhằm giảm rủi ro trong quá trình thu hồi nợ. Đặc biệt, cần chú trọng cho vay đối với hộ sản xuất, doanh nghiệp vừa và nhỏ gắn với các dự án bao tiêu sản phẩm và các lĩnh vực nghiên cứu công nghệ,… phát triển kinh tế khu vực nông thôn.
Ba là, đa dạng hóa sản phẩm cho vay, sản phẩm tiết kiệm, phát triển sản phẩm bảo hiểm và mở rộng các sản phẩm phi tài chính.
Các tổ chức tài chính cần đa dạng hóa các dịch vụ phù hợp với trình độ phát triển và dân trí, thói quen ở mỗi địa phương. Khách hàng khu vực nông thôn thường là những khách hàng có thu nhập trung bình và thấp, những người khó có khả năng tiếp cận hoặc khả năng tiếp cận không đầy đủ với các dịch vụ tài chính chính thức. Nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ tài chính là không đồng nhất và có nhiều biến động, khách hàng có các bậc thang nhu cầu khác nhau nên yêu cầu của khách hàng về mức độ thỏa mãn các dịch vụ tài chính cũng khác nhau. Do vậy, yếu tố quyết định để có thể phát triển thành công là nắm bắt được các nhu cầu của khách hàng hiện tại và khách hàng tương lai, họ có mong đợi gì? Từ đó sẽ đề ra chính sách khách hàng phù hợp.
Ví dụ, đối với các sản phẩm huy động vốn cần đa dạng không những về lãi suất và kỳ hạn mà còn về tính thanh khoản. Một đặc điểm của người dân vùng nông thôn rất quan tâm đến những sản phẩm linh hoạt như gửi góp, tiết kiệm có dự thưởng, tiết kiệm bậc thang… Chú trọng giới thiệu các sản phẩm dịch vụ tiện ích như phát triển các sản phẩm thẻ tín dụng, mở tài khoản tại các ngân hàng để cho vay chuyển khoản đối với hộ sản xuất, trang trại. Mở rộng thị trường cho thuê tài chính giúp các hộ sản xuất đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ đáp ứng nhu cầu vốn hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp cũng được người nông dân vùng nông thôn quan tâm hỗ trợ phòng ngừa rủi ro trong sản xuất vùng nông thôn. Các sản phẩm phi tài chính cần được quan tâm và mở rộng như các dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh tế nông thôn như khuyến nông, khuyến lâm, giáo dục truyền thông, nâng cao năng lực, phát triển cộng đồng…
Bốn là, cần có chính sách giá cả linh hoạt và phù hợp.
Hiện nay, có rất nhiều cơ chế ưu đãi về sử dụng dịch vụ tài chính khu vực nông thôn để tạo điều kiện tiếp cận cho người dân. Nhưng nếu duy trì sẽ phá vỡ quy luật thị trường hàng hóa, không đảm bảo sự phát triển bền vững của các tổ chức tài chính khi tham gia vào khu vực này. Tuy nhiên, để khuyến khích người dân tiếp cận với những dịch vụ tài chính một cách có hiệu quả nhất cũng cần phải có những chính sách khuyến khích trên cơ sở các tổ chức tài chính cần tăng cường hiệu quả hoạt động, giảm chi phí hoạt động và chi phí tài chính, đa dạng hóa sản phẩm, áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt tùy thuộc vào từng loại khách hàng, mục đích.
Ví dụ, các khách hàng có nhu cầu vay mục đích tiêu dùng có thể phải trả lãi cao hơn vay sản xuất kinh doanh, tiền gửi góp huy động lãi suất thấp hơn tiền gửi một lần… các khách hàng kinh doanh nghành nghề có độ rủi ro cao hơn thì áp dụng lãi suất cao hơn, lãi suất cũng nên có sự điều chỉnh linh hoạt theo tình hình biến động của thị trường để đảm bảo có lợi cho cả khách hàng.
Dịch vụ tài chính nông thôn là lĩnh vực rộng, mới và phức tạp. Phát triển dịch vụ tài chính nông thôn đòi hỏi phải có sự phát triển đồng bộ về thị trường, về tổ chức và các hàng hóa trên thị trường. Trong phạm vi bài viết, tác giả mới chỉ để cập tới một số vấn đề về dịch vụ tài chính nông thôn – một lĩnh vực nhiều tiềm năng phát triển.Trong thời gian tới, đòi hỏi Chính phủ, các bộ, ngành cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả hơn để phát triển thị trường tài chính nông thôn góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân khu vực nông thôn.

5/5 - (1 vote)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo