Đánh giá hiệu lực của các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng đã triển khai

Bài viết xem xét Tác động của việc thắt chặt các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng tại Việt Nam

Tác động của các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng đến rủi ro hệ thống.

Giới thiệu
Trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2008, các cơ quan giám sát chỉ quan tâm đến các rủi ro riêng lẻ (Meuleman & Vander Vennet, 2020) và hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn đó cũng tập trung chủ yếu vào khía cạnh vi mô, nghĩa là đảm bảo sự an toàn, lành mạnh và hạn chế rủi ro của từng tổ chức tài chính (International Monetary Fund, 2013). Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng 2008 và những vụ việc như Lehman Brothers đã chứng minh rằng sự thất bại của một ngân hàng có thể khiến toàn bộ hệ thống trở nên không ổn định và việc giữ cho các tổ chức tài chính riêng lẻ hoạt động tốt không phải là điều kiện đủ để đảm bảo sự ổn định tài chính (Meuleman & Vander Vennet, 2020). Trong bối cảnh đó, các công cụ an toàn vĩ mô đã trở nên nổi bật trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro hệ thống của khu vực ngân hàng (Borio,
2003 và Caruana, 2010). Các công cụ này, đặc biệt là nhóm công cụ an toàn vĩ mô hướng đến tín dụng được thiết kế nhằm tăng khả năng phục hồi của các tổ chức tài chính và người đi vay đối với các cú sốc tổng hợp và ngăn chặn sự tăng trưởng quá mức trong trung gian tín dụng từ phản hồi theo chu kỳ giữa tín dụng và giá tài sản (IMF, 2013).
Tại Việt Nam, trong giai đoạn từ 2010 đến 2016, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và hoạt động tín dụng của các ngân hàng nói riêng có sự biến động lớn. Để vượt qua khó khăn trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã rất chủ động và linh hoạt trong việc kích hoạt và điều hành công cụ của chính sách an toàn vĩ mô trong đó có nhiều công cụ liên quan đến hoạt động tín dụng nhằm kiềm chế tăng trưởng tín dụng, hạn chế tín dụng quá mức trong nền kinh tế và giảm thiểu nguy cơ rủi ro hệ thống. Tuy nhiên, cũng có nhiều nghiên cứu chỉ ra, Việt Nam hiện nay vẫn còn thiếu bộ công cụ tiêu chuẩn của chính sách an toàn vĩ mô hay hiệu lực đơn lẻ của các công cụ còn chưa cao. Vì thế, việc đánh giá hiệu lực của các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng đã triển khai là một việc làm rất cần thiết, làm cơ sở cho việc xây dựng một chính sách an toàn vĩ mô hoàn chỉnh, có hiệu lực mạnh hơn.
Với mục tiêu như vậy, bài viết được chia thành 5 phần. Ngoài phần 1 giới thiệu, trong phần 2, các tác giả sẽ khái quát cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về tác động của các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng đến rủi ro hệ thống. Trong phần 3 các tác giả sẽ giới thiệu mô hình SRISK để đo lường rủi ro hệ thống và mô hình hồi quy dữ liệu bảng không cân bằng để đánh giá tác động của các công cụ đến rủi ro hệ thống. Trên cơ sở đó, phần 4 sẽ thảo luận kết quả của mô hình và phần 5 sẽ trình bày các khuyến nghị chính sách và kết luận.

Các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng

Các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng bao gồm các công cụ như: trần tăng trưởng tín dụng; giới hạn dư nợ tín dụng, tỷ lệ cho vay trên tài sản đảm bảo LTV (Loan to value), tỷ lệ nợ trên thu nhập DTI (Debt to Income). Cơ chế tác động chung như sau: việc thắt chặt các công cụ này sẽ tác động đến cả người cho vay (ngân hàng) thông qua giảm thiểu lượng cung tín dụng và tác động đến người đi vay thông qua giảm đòn bẩy tài chính, tăng bộ đệm chống đỡ rủi ro cho người đi vay từ đó giảm thiểu nguy cơ rủi ro. Đồng thời, nhóm công cụ này có thể tác động qua kênh kỳ vọng như hướng tới quản lý hoạt động cho vay chặt chẽ hơn. Cơ chế này được thể hiện trong Hình 1.

Đánh giá hiệu lực của các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng đã triển khai

Tác động của các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng đến rủi ro hệ thống.

Cơ chế tác động cụ thể của một số công cụ như sau:

Trần tăng trưởng tín dụng
Khi mức trần tăng trưởng tín dụng được thiết lập, nguồn cung tín dụng sẽ bị hạn chế dẫn đến hạn chế nguy cơ hình thành bong bóng tín dụng, giảm nguy cơ rủi ro hệ thống. Đồng thời, công cụ này tác động gián tiếp thông qua nâng cao tiêu chuẩn cho vay, quản lý rủi ro của ngân hàng, làm giảm xác suất vỡ nợ và tăng khả năng phục hồi của hệ thống ngân hàng.
Giới hạn dư nợ tín dụng và giới hạn tăng trưởng tín dụng
Các giới hạn dư nợ lớn và giới hạn tăng trưởng tín dụng có thể giảm thiểu rủi ro tập trung, giảm rủi ro tín dụng đối tác và khả năng lây lan. Chúng cũng hạn chế mức độ nhạy cảm của các tổ chức đối với các cú sốc chung. Các giới hạn về mức độ rủi ro đối với các đối tác hoặc lĩnh vực cụ thể, giới hạn dư nợ lớn trực sẽ tiếp thúc đẩy việc phân phối rủi ro, giúp cải thiện độ sâu của thị trường liên ngân hàng và đa dạng hóa nguồn vốn cho các ngân hàng thương mại và làm giảm tác động tiềm ẩn của một vụ vỡ nợ đối tác.

Tỷ lệ cho vay trên tài sản đảm bảo và nợ trên thu nhập

Tỷ lệ cho vay trên tài sản đảm bảo LTV (Loan to value), tỷ lệ nợ trên thu nhập DTI (Debt to Income). LTV, DTI thắt chặt giúp làm giảm thiểu cơ chế ” tăng tốc tài chính” : khi cú sốc thu nhập dương dẫn đến tăng giá nhà ở, tốc độ gia tăng vay nợ dự kiến sẽ thấp hơn trong các nước có tỷ lệ LTV thấp hơn, từ đó ảnh hưởng làm giảm biên độ của chu kỳ tín dụng. Hơn nữa, giới hạn LTV thấp hơn có thể làm tăng khả năng phục hồi của hệ thống ngân hàng thông qua mức lỗ thấp hơn khi vỡ nợ, trong khi giới hạn DTI thấp hơn có thể làm giảm xác suất vỡ nợ.
Hiện nay, có một số nghiên cứu nổi bật về công cụ an toàn vĩ mô nói chung và công cụ an toàn vĩ mô tín dụng như Claessens & cộng sự (2013), Akinci & Olmstead-Rumsey (2018), Cerutti & cộng sự (2017) và Altunbas & cộng sự (2018). Các tác giả này đánh giá hiệu lực của các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng để xem xét tác động đối với tăng trưởng và bùng nổ tín dụng.
Claessens & cộng sự (2013) chỉ ra các chính sách an toàn vĩ mô giúp kiểm soát các lỗ hổng của hệ thống ngân hàng (tăng trưởng tài sản, tăng trưởng đòn bẩy, khoản đi vay). Các tác giả đã chỉ ra rằng các công cụ nhắm vào người vay có hiệu quả (gián tiếp) làm giảm sự tích tụ của các lỗ hổng hệ thống ngân hàng.
Akinci & Olmstead-Rumsey (2018) phân tích tác động của chính sách an toàn vĩ mô đối với tăng trưởng tín dụng ngân hàng và giá bất động sản. Nghiên cứu cho thấy các biến chính sách an toàn vĩ mô có mối quan hệ ngược chiều đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng và tăng giá nhà đồng thời kết luận rằng sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, thắt chặt công cụ an toàn vĩ mô có tác động mạnh hơn đến tăng trưởng và lạm phát giá bất động sản.
Tương tự, Cerutti & cộng sự (2017) đã kết luận trong nghiên cứu của mìn là các chính sách an toàn vĩ mô tín dụng dường như đặc biệt hiệu quả khi tốc độ tăng trưởng tín dụng rất cao, nhưng ít tác động hơn trong giai đoạn suy thoái.
Về tác động đến mục tiêu cuối cùng, cho đến nay, các nghiên cứu về tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến rủi ro hệ thống tương đối ít, nổi bật là nghiên cứu của Andries & cộng sự (2017), Gao & cộng sự (2018) và Meuleman & Vander Vennet (2020).
Andries & cộng sự (2017) đã nghiên cứu về tác động của chính sách an toàn vĩ mô chung đến rủi ro hệ thống tại 95 ngân hàng thương mại Châu Âu và Bắc Mỹ trong giai đoạn 2008 đến 2014. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng việc thắt chặt các yêu cầu về vốn, tín dụng hay thanh khoản có thể làm giảm đáng kể mức độ rủi ro hệ thống của các ngân hàng này.
Gao & cộng sự (2018) đã chỉ ra rằng các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng tác động đến người vay có hiệu quả, đặc biệt ở những quốc giá có nền kinh tế đóng và những quốc gia có hạn chế chặt chẽ đối với hoạt động ngân hàng. Các tác giả cũng chỉ ra rằng các chính sách an toàn vĩ mô tín dụng hướng đến tổ chức tài chính tỏ ra kém hiệu quả hơn.
Meuleman & Vander Vennet (2020) đã nghiên cứu tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến rủi ro hệ thống. Nghiên cứu đã cho việc công bố về các chính sách an toàn vĩ mô đã làm giảm rủi ro hệ thống tại các ngân hàng và các công cụ này nói chung đều đạt được mục tiêu mong muốn
Có thể thấy rằng, các nghiên cứu chủ yếu tập trung đánh giá tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến mục tiêu trung gian (tăng trưởng tín dụng, thanh khoản…) chứ rất ít nghiên cứu đánh giá đến rủi ro hệ thống. Tại Việt Nam thì chưa có nghiên cứu nào đo lường rủi ro hệ thống bằng phương pháp SRISK cũng như đánh giá tác động của công cụ an toàn vĩ mô tín dụng đến rủi ro hệ thống. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà các tác giả hướng đến.
Thảo luận kết quả
Thứ nhất, rủi ro hệ thống kỳ trước có tác động mạnh đến rủi ro hệ thống của kỳ sau đó, hơn nữa giá trị lại lớn (0.70.8). Điều này cho thấy rủi ro hệ thống có mức độ tích tụ qua thời gian.
Thứ hai, các biến vĩ mô và thị trường có tác động đến rủi ro hệ thống. CPI kỳ trước có tác động ngược chiều với rủi ro hệ thống kỳ liền sau đó chứng tỏ rằng các biện pháp kiểm soát lạm phát của Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn trước đã tác động giảm chu kỳ tín dụng và giảm rủi ro hệ thống kỳ sau đó. GDP kỳ trước có tác động cùng chiều với rủi ro hệ thống chứng tỏ rằng chu kỳ kinh tế tại Việt Nam đã có thúc đẩy xu hướng hành động thuận chu kỳ trong tăng trưởng tài sản (làm tăng đòn bẩy tài chính) và hoạt động tín dụng của các ngân hàng từ đó dẫn đến nguy cơ tích tụ rủi ro hệ thống. VOL kỳ trước có tác động ngược chiều với rủi ro hệ thống kỳ liền sau đó. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Le (2020).
Thứ ba, các biến đặc trưng ngân hàng cũng tác động đến rủi ro hệ thống. ROE kỳ trước tăng sẽ làm giảm rủi ro hệ thống kỳ liền sau đó, điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Matutes & Vives (2000) và Smith & cộng sự (2003). Ngược lại, A/E của kỳ trước tăng sẽ làm gia tăng rủi ro hệ thống kỳ liền sau đó, giống kỳ vọng. Trong giai đoạn nghiên cứu, các ngân hàng thương mại Việt Nam duy trì tỷ lệ đòn bẩy tương đối cao, điều này dẫn đến nguy cơ rủi ro hệ thống tích tụ trong hệ thống tài chính.
Thứ tư, các biến công cụ an toàn vĩ mô tín dụng có tác động đến rủi ro hệ thống. MAPP1 có tác động giảm thiểu rủi ro hệ thống, cho thấy rằng việc phân nhóm ngân hàng và áp dụng trần tăng trưởng tín dụng trong
giai đoạn 2012 – 2013 đã phát huy tác dụng làm giảm tăng trưởng tín dụng, dẫn đến giảm rủi ro hệ thống. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Hoàng Anh & cộng sự (2019). Biến MAPP2 không có ý nghĩa, cho thấy việc quy định chỉ có những doanh nghiệp hay tổ chức có nguồn thu ngoại tệ mới được phép vay bằng ngoại tệ vẫn không có tác dụng giảm tín dụng bằng ngoại tệ, bình ổn thị trường ngoại tệ và giảm thiểu rủi ro hệ thống. MAPP3 có tương quan cùng chiều với rủi ro hệ thống, ngược với kỳ vọng. Nguyên nhân được chỉ ra trong nghiên cứu của Phạm Thị Hoàng Anh & cộng sự (2019) là do từ cả phía cầu (tâm lý đầu cơ của khách hàng) và từ phía cung xuất phát từ chiến lượng phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam. MAPP4 có tác động ngược chiều với rủi ro hệ thống tại kỳ sau đó. Hiện nay, tỷ lệ LTV được áp dụng theo thông tư 41/2016/TT-NHNN (chính thức áp dụng từ 01/01/2020 và gia hạn đến 01/01/2023). Tuy nhiên, trên thực tế đã có khá nhiều ngân hàng thương mại đã tiến hành triển khai thông tư này cho thấy công cụ này đã phát huy hiệu lực. Cuối cùng, kết quả chỉ ra khi kích hoạt đồng thời thì các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng MAPP_CREDIT đã có tác động giảm thiểu rủi ro hệ thống tại các ngân hàng thương mại với độ trễ là 1 kỳ. Điều này cho thấy hiệu lực của các công cụ ở Việt Nam này đã được chứng minh.

Đề xuất một số khuyến nghị làm giảm thiểu rủi ro hệ thống.

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng việc thắt chặt các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng đã có tác động làm giảm thiểu rủi ro hệ thống tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Bài viết sử dụng dữ liệu của 9 ngân hàng thương mại Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán giai đoạn từ tháng 6 năm 2009 đến hết năm 2019 và phương pháp SRISK để đo lường rủi ro hệ thống tại các ngân hàng thương mại này đồng thời sử dụng phương pháp hồi quy bảng không cân bằng để đánh giá tác động của các công cụ an toàn vĩ mô tín dụng đến rủi ro hệ thống. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2009 – 2019, bên cạnh một số công cụ riêng lẻ đã phát huy được hiệu lực cũng có công cụ chưa phát huy được tác động, nhưng khi kích hoat đồng thời thì các công cụ này đã có tác động làm giảm thiểu rủi ro hệ thống.
Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả đề xuất một số khuyến nghị như sau. Thứ nhất, với các công cụ đã phát huy hiệu lực như trần tăng trưởng tín dụng, LTV thì cần tiếp tục sử dụng trong việc giảm thiểu tăng trưởng tín dụng và rủi ro hệ thống. Thứ hai, đối với công cụ trọng số rủi ro và hạn chế đối tượng cho vay ngoại tệ chưa phát huy được hiệu lực thì cần xem xét, đánh giá và thiết lập lại các điều kiện để công cụ phát huy có hiệu lực. Thứ ba, cần tiếp tục triển khai can thiệp đồng thời các công cụ an toàn vĩ mô đã kích hoạt. Việc triển khai kết hợp không chỉ giữa các công cụ trong cùng một nhóm mà còn giữa các công cụ thuộc các nhóm khác nhau.

5/5 - (1 vote)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo