Doanh nghiệp nhà nước và tăng trưởng kinh tế: định hướng và giải pháp cơ bản – phần 2

Bài viết cung cấp nội dung: khu vực kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, tăng trưởng kinh tế (phần 2)

Doanh nghiệp nhà nước và tăng trưởng kinh tế: định hướng và giải pháp cơ bản – phần 2

Doanh nghiệp nhà nước và tăng trưởng kinh tế: định hướng và giải pháp cơ bản – phần 2

Doanh nghiệp nhà nước: một số định hướng và giải pháp cơ bản

Định hướng và quan điểm về doanh nghiệp nhà nước

Trong giai đoạn 2011-2015 theo tinh thần Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg, các Bộ ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, Hội đồng thành viên các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hiện tập trung xây dựng phương án sắp xếp, đổi mới DNNN do mình quản lý. Về cơ bản, trong thời gian tới, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vẫn được coi là giải pháp then chốt trong quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước.
Định hướng cải tổ DNNN là giảm số lượng DNNN có cổ phần chi phối, cơ cấu lại các doanh nghiệp thành viên theo lĩnh vực chuyên môn hóa, bảo đảm hiệu quả, thu hút thêm vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác, đồng thời tạo sự biến đổi về chất trong tổ chức và quản trị doanh nghiệp tránh cạnh tranh nội bộ không lành mạnh.
Mục tiêu cải tổ DNNN là nâng cao năng lực hoạt động của các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty lớn để luôn giữ vai trò nòng cốt trong điều tiết kinh tế vĩ mô và làm đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp khác, đồng thời có thể trở thành những doanh nghiệp đầu tàu nâng đỡ sự phát triển của các doanh nghiệp khác. Xây dựng đề án tổng thể về tổ chức, sắp xếp lại các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước để hình thành những tổ hợp công ty nhà nước mạnh, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành trong khu vực.
Với định hướng nhằm thúc đẩy quá trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, góp phần từng bước tái cấu trúc khu vực này, hiện Chính phủ đang chỉ đạo các Bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm khắc phục những khó khăn trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đang được giao thực hiện một số nhiệm vụ sau:
+ Bộ Kế hoạch và Đầu tư: i) trình Thủ tướng Chính phủ Dự thảo Nghị định về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nhằm tách bạch chức năng quản lý nhà nước về mặt hành chính và quản lý doanh nghiệp của đại diện chủ sở hữu; ii) nghiên cứu, đề xuất cơ chế hoạt động của Kiểm soát viên tại công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu nhằm tháo gỡ các khó khăn liên quan đến việc bổ nhiệm kiểm soát viên, quyền và nghĩa vụ của Kiểm soát viên từ đó nâng cao hiệu quả giám sát hoạt động sản xuất, hiệu quả sử dụng vốn nhà nước trong các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước của chủ sở hữu; iii) sửa đổi Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ quy định về sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích; iv) xây dựng, trình Chính phủ Nghị định về thành lập mới, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp do Nhà nước nắm 100% vốn.
+ Bộ Tài chính: i) nghiên cứu Nghị định thay thế Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần; ii) nghiên cứu, sửa đổi Nghị định về cơ chế tài chính cho doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thay thế Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 5/2/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác; iii) nghiên cứu cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Một số giải pháp

Cần xác định phương án tách bạch vai trò quản lý và sở hữu doanh nghiệp của nhà nước phù hợp với thực trạng DNNN ta hiện nay. Quan điểm chỉ đạo tách quản lý hành chính nhà nước với chủ sở hữu vốn tại các doanh nghiệp nhà nước đã được đề cập từ Đại hội IX và Nghị quyết Đại hội X; đồng thời Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định tách biệt 2 chức năng này. Cần xác định mô hình, lựa chọn bộ phận chuyên trách thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN.
Theo kết quả nghiên cứu của viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Việt Nam nên theo phương án thận trọng, nghĩa là mô hình song trùng sau đó chuyển dần sang mô hình tập trung8. Tuy nhiên, nếu đảm bảo được tính công khai minh bạch về thông tin, bộ phận thực hiện chức năng chủ sở hữu có năng lực thì thực hiện mô hình tập trung sẽ là một phương án tiết kiệm chi phí vận hành.
Đồng thời công tác quản trị doanh nghiệp, công tác quản lý của Nhà nước cần được chú trọng. Do hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà phụ thuộc vào yếu tố quản trị doanh nghiệp, vào quản trị công ty (corporate govenance) và điều hành sản xuất kinh doanh chứ không phụ thuộc vào nguồn gốc của vốn và tài sản của doanh nghiệp. Do đó, người quản lý DNNN phải có tố chất hàng đầu là năng lực quản lý kinh doanh giỏi chứ không nhất thiết là phải là được cơ cấu cất nhắc từ chính các quan chức nhà nước.
Cần xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong các TĐKT và TCT nhà nước đối với vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, vừa đảm bảo quyền chủ động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vừa bảo toàn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước. Cần thiết kế lại quy chế về quản trị doanh nghiệp, xác định rõ nội dung giám sát của nhà nước, trên cơ sở tách bạch vai trò quản lý nhà nước và vai trò chủ sở hữu, vai trò chủ sở hữu với quyền quyết định kinh doanh…
Đồng thời, thiết lập hệ thống thông tin quản trị thông suốt và hệ thống giám sát hữu hiệu từ các bộ phận sản xuất kinh doanh đến ban giám đốc, hội đồng quản trị và cơ quan chuyên trách chủ sở hữu. Có thể tham khảo triết lý quản trị doanh nghiệp Kaizen-Nhật Bản, triết lý đã đem lại thành công cho tập đoàn lớn trên thế giới như Toyota9.
Cùng với việc thay đổi về chất của quá trình quản trị nội bộ doanh nghiệp nhà nước, cơ chế giám sát từ phía cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước cũng cần phải được hoàn thiện để có hiệu quả và hiệu lực. Cần thiết lập hệ thống giám sát nội bộ hữu hiệu, gồm giám sát tài chính, giám sát hoạt động kinh doanh và giám sát, đánh giá rủi ro theo sát các nguyên tắc và thông lệ quản trị tốt đã được quốc tế thừa nhận. Cần thiết lập được những bộ chỉ tiêu về hoạt động của doanh nghiệp để có thể đánh giá được một cách toàn diện hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.
Nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, đồng thời xây dựng cơ chế cảnh báo sớm đối với DNNN để kịp thời thông tin cho Chính phủ về những doanh nghiệp có dấu hiệu hoạt động kém hiệu quả để kịp thời có giải pháp xử lý, tránh lãng phí và thất thoát tài sản của Nhà nước. Cần có cơ
quan quản lý doanh nghiệp nhà nước tập trung, kể cả các tập đoàn kinh tế chuyên trách, đủ mạnh để thực hiện quản lý và giám sát sở hữu nhà nước tại các DNNN.
Bên cạnh đó, cần không ngừng cải thiện thể chế hóa cơ chế, chính sách tạo khung pháp lý đồng bộ để DNNN nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh sắp xếp những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn; tiếp tục thực hiện tái cơ cấu, đẩy mạnh bán vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhỏ, kém hiệu quả và không thuộc lĩnh vực Nhà nước cần nắm giữ vốn. Đồng thời, cần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của DNNN theo tinh thần Luật Doanh nghiệp 2005, tạo ra một môi trường cạnh tranh công khai và bình đẳng, tạo động cơ để cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy DNNN phát huy lợi thế cạnh tranh, đồng thời tăng cường liên kết hợp tác, tạo chuỗi giá trị. Từng bước hình thành doanh nghiệp đầu tàu từ khu vực DNNN, giúp cho khu này ngày một trưởng thành tương xứng với tiềm tăng và những đóng góp thỏa đáng cho nền kinh tế quốc dân.
Một giải pháp không thể thiếu đó là công khai và minh bạch hóa thông tin ít nhất theo các tiêu chí như đang áp dụng đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán hiện nay. Các DNNN phải có báo cáo tài chính hợp nhất; báo cáo đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu chiến lược được kiểm toán theo chuẩn mực quốc tế được công khai hóa để bất kỳ ai có quan tâm đều biết nhằm tăng cường hoạt động giám sát doanh nghiệp nhà nước.
Tóm lại, để khu vực DNNN có thể trở thành ” quả đấm thép” của nền kinh tế, là bệ phóng của nền kinh tế trong bối cảnh ổn định, là bệ đỡ của nền kinh tế trước diễn biến khó lường trong hội nhập kinh tế, nguy cơ khủng hoảng kinh tế do nợ công, thiếu ổn định không muốn nói là mỏng manh dễ vỡ của thị trường tài chính thế giới, tăng trưởng thụt lùi và triển vọng ảm đạm của nền kinh tế toàn thế giới hiện nay, DNNN phải thực sự lột xác, thoát khỏi cái bóng của nhà nước mà trở thành một chủ thể kinh tế thực thụ bình đẳng trong thị trường, phát huy được lợi thế qui mô, tiên phong về ứng dụng và sáng kiến khoa học công nghệ, qui tụ nhân tài kể cả nhân lực và quản lý, tiến bộ và hiệu quả về phương thức quản lý, đầu mối của hợp tác và liên kết, hướng tới phát triển ổn định và bền vững.

5/5 - (1 vote)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo