Hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp

Đổi mới sản phẩm, Môi trường kinh doanh, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, SMEs,

Khung lý thuyết về sự đỗi mới của doanh nghiệp

Từ khóa: Thể chế, Tiếp cận tín dụng, Giao dịch bảo đảm, Cho vay tín dụng, Doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1. Khung lý thuyết về sự phụ thuộc của đổi mới

Sự phụ thuộc của đổi mới trong tương lai của doanh nghiệp vào đổi mới trong quá khứ có thể được giải thích với ba lý thuyết bao gồm: lý thuyết về tích lũy kiến thức, lý thuyết thành công tạo ra thành công, và lý thuyết về chi phí chìm (sunk cost) trong đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) (Latham & Le Bas, 2006).

Lý thuyết về tích lũy kiến thức nhấn mạnh tới hiệu ứng học hỏi kiến thức thông qua hành động hay nói cách khác là quá trình tự tích lũy kiến thức của người sáng tạo (Geroski & cộng sự, 1997; Colombelli & Tunzelmann, 2011). Kiến thức là tài sản đặc thù của doanh nghiệp. Kiến thức có được là do quá trình tích lũy lâu dài và không có giới hạn. Doanh nghiệp khi tạo ra được kiến thức mới có thể kết hợp với các kiến thức hiện có để tiếp tục tạo ra các kiến thức mới hơn. Do vậy nếu trước đây doanh nghiệp đã từng đổi mới thành công thì chi phí để thực hiện đổi mới trong tương lai sẽ thấp hơn.

Lý thuyết thành công tạo ra thành công chỉ ra rằng khi đổi mới thành công các doanh nghiệp có cơ hội lớn hơn về công nghệ, có quy mô lớn hơn, có sức mạnh thị trường nhiều hơn, giảm khó khăn về tài chính, lợi nhuận tăng và do vậy có thể tiếp tục đầu tư cho đổi mới (Flaig & Stadler, 1994; Scellato & Ughetto,2010; Czarnitzki & Hottenrott, 2010). Các dự án đổi mới thường đòi hỏi nhiều vốn và có độ rủi ro cao. Do vậy, doanh nghiệp thường không đủ vốn và khó thuyết phục những người khác cho vay để đầu tư vào đổi mới. Nếu đổi mới thành công, doanh nghiệp sẽ có thêm vốn và cũng dễ thuyết phục các nhà đầu tư, những người cho vay tiếp tục đầu tư và cho doanh nghiệp vay thêm vốn để tiếp tục đổi mới.

Lý thuyết về chi phí chìm nhấn mạnh đến các khoản đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Những khoản đầu tư cho hoạt động R&D được coi là các chi phí chìm. Nhà đầu tư không thể thu lại được những chi phí này nếu hoạt động đổi mới bị thất bại. Chỉ khi đổi mới thành công nhà đầu tư mới có thể thu lại những chi phí này. Vì vậy, các khoản đầu tư vào hoạt động R&D vừa là rào cản ngăn doanh nghiệp đổi mới đồng thời cũng làm cho các doanh nghiệp đã bắt đầu triển khai hoạt động R&D không thể dừng lại được (Máñez & cộng sự, 2009; Antonelli & cộng sự, 2012). Do vậy, chi phí chìm là nguyên nhân làm cho đổi mới phụ thuộc vào quá khứ.

Hình 1: Thể chế trong không gian đổi mới

lý thuyết về sự phụ thuộc của đổi mới
Lý thuyết về sự phụ thuộc của đổi mới

2.2. Khung lý thuyết về sự tác động của thể chế tới đổi mới của doanh nghiệp

Các nghiên cứu trước đây khẳng định vai trò quan trọng của thể chế đối với đổi mới của doanh nghiệp (North, 1990; Peng & cộng sự, 2009; Yang & cộng sự, 2012; Zhu & cộng sự, 2012). Trong môi trường thể chế khác nhau, các doanh nghiệp theo đuổi các mục tiêu khác nhau sẽ xây dựng các chiến lược và triển khai các kế hoạch, giải pháp tối ưu phù hợp với các điều kiện ràng buộc và các giới hạn do khung khổ thể chế quyết định. Các yếu tố của thể chế được coi là các yếu tố bên ngoài tác động tới đổi mới của doanh nghiệp. Những yếu tố bên ngoài đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi các yếu tố bên trong như hệ thống, nguồn lực, công nghệ để đổi mới bị hạn chế (Yang & cộng sự, 2012; Zhu & cộng sự, 2012). Ở các nước như Trung Quốc và Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ không thực hiện nhiều đổi mới như các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Do đó, thể chế có vai trò quan trọng đối với đổi mới ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Có nhiều mô hình khác nhau về tác động của thể chế tới đổi mới của doanh nghiệp (Godin, 2006; Zhu & cộng sự, 2012). Các mô hình này đều nhấn mạnh tới các yếu tố gồm: sự bình đẳng về cạnh tranh trên thị trường (sự không thiên vị của chính phủ, xóa bỏ bảo hộ, sự dễ dàng trong khởi nghiệp và gia nhập ngành, luật cạnh tranh); tiếp cận nguồn vốn (chính thức và phi chính thức); Luật và các quy định (quyền sở hữu trí tuệ, sự minh bạch và có thể dự đoán được của các luật và quy định); giảm gánh nặng thuế (thuế và tài trợ); và hệ thống hỗ trợ công (hạ tầng phần cứng, các viện nghiên cứu, hệ thống thông tin, đào tạo, dịch vụ kinh doanh). Các yếu tố này tác động tới chi phí, rủi ro, và cơ hội của đổi mới. Cụ thể như trình bày trong Hình 1.

Sự tác động của thể chế tới chi phí, rủi ro và cơ hội của đổi mới tạo thành một không gian đổi mới của doanh nghiệp. Các yếu tố của thể chế tác động đồng thời tới chi phí, rủi ro và cơ hội của đổi mới. Tuy vậy, thông thường sự bình đẳng trong cạnh tranh tác động tới cơ hội của đổi mới. Các yếu tố về giảm thuế, tiếp cận nguồn vốn, rào cản gia nhập ngành tác động tới chi phí của đổi mới. Luật, quy định, và sự hỗ trợ trong kinh doanh tác động tới rủi ro trong đổi mới.

2.3. Các nghiên cứu trước đây

2.3.1. Sự phụ thuộc vào đổi mới trước đây của doanh nghiệp

Nhiều nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa đổi mới trong tương lai và đổi mới trong quá khứ của các doanh nghiệp (Matvejeva, 2014; Tavassoli & Karlsson, 2015). Tuy vậy, mối quan hệ nhân quả này tùy thuộc vào cách hiểu và đo lường kết quả đổi mới. Nếu kết quả đổi mới được đo bằng các bằng phát minh, sáng chế thì các nghiên cứu trước đây cho kết quả không thống nhất (Geroski & cộng sự, 1997; Cefis, 2003; Malerba & Orsenigo, 1999; Tavassoli & Karlsson, 2015).

Khi kết quả đổi mới của doanh nghiệp là đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình sản xuất như cách phân loại của OECD (2009) thì mối quan hệ nhân quả này được nhiều nghiên cứu chứng minh (Flaig & Stadler, 1994; Roper & Hewitt-Dundas, 2008; Matvejeva, 2014). Các nghiên cứu này khẳng định các doanh nghiệp đã từng đổi mới trong quá khứ có khả năng và thực tế đổi mới nhiều hơn trong tương lai.

Nhiều nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nhân quả này không giống nhau giữa các hình thức đổi mới khác nhau của doanh nghiệp. Antonelli & cộng sự (2012) cho thấy đổi mới sản phẩm phụ thuộc nhiều hơn vào quá khứ vì doanh nghiệp thu được lợi nhiều hơn từ đổi mới sản phẩm. Clausen & Pohjola (2013) nhấn mạnh rằng việc đổi mới sản phẩm toàn diện, đổi mới sâu về sản phẩm phụ thuộc nhiều vào quá khứ. Tavassoli & Karlsson (2015) và Le Bas & Poussing (2014) cũng khẳng định các kết quả nghiên cứu trước đây và đi sâu phân tích các hoạt động đổi mới đa chiều của doanh nghiệp.

2.3.2. Vai trò của thể chế và môi trường kinh doanh

Nhiều nghiên cứu trước đây đề cập tới tác động của yếu tố bên ngoài tới đổi mới của doanh nghiệp. Những yếu tố này gồm mức độ cạnh tranh, nhu cầu của khách hàng, áp lực từ các đối tác, hỗ trợ của chính phủ, tiếp cận tài chính (Roper & Hewitt-Dundas, 2008; Woerter, 2014). Flaig & Stadler (1994) chỉ ra rằng cấu trúc của thị trường trong đó quy mô và mức độ cạnh tranh là những yếu tố quan trọng tác động tới đổi mới trong hiện tại và sự phụ thuộc vào đổi mới trong quá khứ. Antonelli & cộng sự (2013) nhấn mạnh tới sự tích lũy và khối lượng kiến thức bên ngoài doanh nghiệp. Thể chế nói chung cũng tác động tới sự phụ thuộc của kết quả đổi mới trong tương lai và quá khứ (Matvejeva, 2014). Nhiều nghiên cứu khác nhấn mạnh tới vai trò hỗ trợ của chính phủ ví dụ như các chính sách thuế, đầu tư, tài chính, thông tin, luật pháp, tham nhũng, quyền sở hữu trí tuệ với kết quả đổi mới của doanh nghiệp (Cohen & cộng sự, 2000; Guellec & van Pottelsberghe, 2003; OECD, 2015; Appelt & cộng sự, 2015; Nguyen & cộng sự, 2016).

Dù vậy, các nghiên cứu trước đây chưa đề cập tới tác động của chất lượng môi trường kinh doanh ở địa phương tới sự phụ thuộc của kết quả đổi mới trong tương lai vào quá khứ. Các nghiên cứu trước đây chưa phân tích từng yếu tố cụ thể của môi trường kinh doanh tác động thế nào tới sự phụ thuộc này của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy, các chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới còn thiếu căn cứ khoa học. Nghiên cứu này đóng góp về mặt lý luận và là căn cứ để hoạch định chính sách thúc đẩy đổi mới trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nghiên cứu tập trung vào hoạt động đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp vì đổi mới sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Hoạt động đỗi mới của doanh nghiệp là gì?

Hoạt động đổi mới không chỉ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp mà còn quyết định sự phát triển của ngành và quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp 4.0. Aghion & Howitt (1992) cho thấy đổi mới tạo, sáng tạo là động lực tăng trưởng kinh tế.
Các nghiên cứu trước đây cho thấy các doanh nghiệp khác nhau có mức độ đổi mới khác nhau. Mỗi doanh nghiệp có những thuận lợi và khó khăn riêng, có lịch sử và quá trình đổi mới khác nhau. Mỗi doanh nghiệp ở trong những môi trường kinh doanh khác nhau, chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau từ bên ngoài. Do có đặc thù khác nhau nên khả năng, mức độ và sự thành công trong đổi mới của các doanh nghiệp là khác nhau (Martinez-Ros, 2000).

Khung lý thuyết về sự đỗi mới của doanh nghiệp

1. Khung lý thuyết về sự phụ thuộc của đổi mới: Sự phụ thuộc của đổi mới trong tương lai của doanh nghiệp vào đổi mới trong quá khứ có thể được giải thích với ba lý thuyết bao gồm: lý thuyết về tích lũy kiến thức, lý thuyết thành công tạo ra thành công, và lý thuyết về chi phí chìm (sunk cost) trong đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) (Latham & Le Bas, 2006).
2. Khung lý thuyết về sự tác động của thể chế tới đổi mới của doanh nghiệp: Trong môi trường thể chế khác nhau, các doanh nghiệp theo đuổi các mục tiêu khác nhau sẽ xây dựng các chiến lược và triển khai các kế hoạch, giải pháp tối ưu phù hợp với các điều kiện ràng buộc và các giới hạn do khung khổ thể chế quyết định.

Sự phụ thuộc vào đổi mới trước đây của doanh nghiệp

Nhiều nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa đổi mới trong tương lai và đổi mới trong quá khứ của các doanh nghiệp (Matvejeva, 2014; Tavassoli & Karlsson, 2015). Tuy vậy, mối quan hệ nhân quả này tùy thuộc vào cách hiểu và đo lường kết quả đổi mới. Nếu kết quả đổi mới được đo bằng các bằng phát minh, sáng chế thì các nghiên cứu trước đây cho kết quả không thống nhất (Geroski & cộng sự, 1997; Cefis, 2003; Malerba & Orsenigo, 1999; Tavassoli & Karlsson, 2015).

Vai trò của thể chế và môi trường kinh doanh?

Thể chế nói chung cũng tác động tới sự phụ thuộc của kết quả đổi mới trong tương lai và quá khứ (Matvejeva, 2014). Nhiều nghiên cứu khác nhấn mạnh tới vai trò hỗ trợ của chính phủ ví dụ như các chính sách thuế, đầu tư, tài chính, thông tin, luật pháp, tham nhũng, quyền sở hữu trí tuệ với kết quả đổi mới của doanh nghiệp

5/5 - (23 votes)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo