Mối quan hệ Phát triển kinh tế xanh và tăng trưởng kinh tế bền vững.

Bài viết giới thiệu kinh tế xanh đối với tăng trưởng kinh tế bền vững tại Thái Nguyên

Mối quan hệ Phát triển kinh tế xanh và tăng trưởng kinh tế bền vững.

Kinh tế xanh là gì?

 Tăng trưởng xanh trong phát triển kinh tế

Tăng trưởng xanh là xu thế phát triển tất yếu khách quan trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Tại Việt Nam, phát triển kinh tế xanh bước đầu hình thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cho việc triển khai thực hiện. Việt Nam đã xây dựng Chiến lược Phát triển Năng lượng tái tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050; xây dựng khung pháp lý về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất và đời sống; thực hiện dán nhãn năng lượng cho các sản phẩm tư liệu sản xuất và thiết bị tiêu dùng.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và quy định tiêu chuẩn ” xanh” cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản. Bước đầu ứng dụng và mang lại hiệu quả thực tế cho sản xuất, kinh doanh. Đến năm 2018, đã có 7 bộ đã ban hành Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh. Năm 2019, cả nước có 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và thực hiện Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh cấp tỉnh, thành phố. Từ đó, đã ban hành các hành động được triển khai cụ thể để hành động chiến lược thông qua việc rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, trang thiết bị đảm bảo nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên, tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm…
Kinh tế xanh hay kinh tế sạch là nền kinh tế mà chính sách phát triển có định hướng thị trường sử dụng nền tảng là các nền kinh tế truyền thống với mục tiêu đảm bảo sự hòa hợp giữa kinh tế và môi trường sinh thái. Chiến lược tăng trưởng cơ bản của nền kinh tế xanh là bảo vệ môi trường, phát triển công nghệ sản xuất sạch và năng lượng sạch, nhanh chóng đạt được mức tăng trưởng bền vững hay nói cách khác là tăng trưởng xanh.
Tại Thái Nguyên, tăng trưởng xanh trong phát triển kinh tế ngành được coi là mục tiêu cơ bản và coi đây là một nhiệm vụ cấp bách của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm của tỉnh. Việc thu thập, đánh giá, xây dựng cơ sở dữ liệu đầu vào đối với các chỉ tiêu về tăng trưởng xanh, như: tỷ lệ đạt quy chuẩn môi trường của chất lượng không khí; tỷ lệ thực hiện nông nghiệp xanh (VIETGAP, GAHP, GMP, HCCP); tỷ lệ giá trị sản xuất của ngành công nghệ cao, công nghệ xanh trong GRDP/GDP bước đầu được quan tâm nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh trong phát triển kinh tế địa phương. Do đó, việc gắn ” cơ cấu lại nền kinh tế” với ” phát triển kinh tế xanh” là một vấn đề thời sự cấp thiết, đảm bảo sự phát triển bền vững nhằm tháo gỡ được ” nút thắt” về chuyển dịch và tái cơ cấu kinh tế các ngành. Điều đó sẽ góp phần hướng mục tiêu tăng trưởng kinh tế của tỉnh tới việc sử dụng công nghệ thân thiện, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền vững.
Do đó, nghiên cứu sẽ tập trung làm rõ sự tác động của các nhân tố đến việc hình thành và phát triển nền kinh tế xanh tại tỉnh Thái Nguyên nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững. Mục tiêu chính của nghiên cứu là thiết kế mô hình các nhân tố tác động đến phát triển kinh tế xanh tại địa phương nhằm thử nghiệm, đánh giá để có được các kết luận phù hợp. Đồng thời, đây sẽ là cơ sở cho việc đề xuất và gợi ý các giải pháp nhằm thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế tại địa phương, tạo bước đột phá để tìm ra cách thức tăng trưởng kinh tế mới, có cơ sở công nghệ – kỹ thuật sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng bền vững.
Tăng trưởng xanh đang là xu hướng chủ đạo trong chính sách phát triển kinh tế của các nước trên thế giới. Ngân hàng thế giới đã nhấn mạnh đến sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả thực tế của mô hình tăng trưởng xanh đối với việc đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Đồng thời cũng đã chỉ ra các tác nhân tác động quá trình tăng trưởng theo mô hình tăng trưởng xanh và cơ chế tác động của tăng trưởng xanh đến chiến lược hoạt động của các chủ thể tham gia vào nền kinh tế. Ansuategi & cộng sự (2015) cho rằng để nền kinh tế duy trì được sự phát triển và tăng trưởng bền vững, cần thúc đẩy việc sử dụng năng lượng sạch. Trong nghiên cứu của mình, Clark & cộng sự (2015) đã nhấn mạnh đến yếu tố năng lượng, kỹ thuật chính là đòn bẩy để thực hiện cuộc cách mạng xanh trong phát triển kinh tế. Để thực hiện phát triển kinh tế xanh, cần quan tâm tới môi trường, nhận thức về tính hiệu quả của sản phẩm, xúc tiến của Chính phủ, xúc tiến của doanh nghiệp, tính sẵn có của sản phẩm (Dorling, 2007). Trong đó, sự can thiệp hiện tại của chính phủ trong chiến lược phát triển kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững đóng vai trò quan trọng (ASCEE team, 2008; Luo, 2012) đã phân tích các mô hình chuối cung ứng và các kỹ thuật tài chính trong việc giải quyết các vấn
đề hóc búa trong xu thế phát triển bền vững nền kinh tế hiện nay. Một số nghiên cứu của UNESCAP (2013) cũng đã khẳng định rằng một trong những nội dung quan trọng của tăng trưởng xanh là xanh hóa sản xuất. Theo đó, xanh hóa sản xuất hay phát triển kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh là tập con của sản xuất bền vững, nó được coi là một bước để hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển theo hướng bền vững.
Nghiên cứu về sự tác động của việc phát triển kinh tế xanh tới các lĩnh vực của đời sống cũng thu hút nhiều tác giả quan tâm. Vũ Anh Dũng & cộng sự (2012), trong nghiên cứu của mình, đã đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam. Nghiên cứu đã chỉ ra 7 nhóm nhân tố, bao gồm: giá, chất lượng, thương hiệu, nhãn sinh thái, mẫu mã, sự sẵn có của sản phẩm và hình thức phân phối. Rylander & Allen (2001) đưa ra mô hình hành vi tiêu dùng nhằm đánh giá mức độ tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh.

Các yếu tố tác động đến tăng trưởng xanh bao

Lý thuyết hành vi có kế hoạch đã được Follow & Jobber (1999) tiến hành khi nghiên cứu về hành vi mua sắm có trách nhiệm với môi trường. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng các biến quan sát gồm tính bảo thủ (conservation), tính vị tha/rộng lượng (self-transcendent), tính vị kỷ (self-enhancement) có tác động đến ý định cũng như hành vi mua sắm có trách nhiệm với môi trường. Nghiên cứu cũng chỉ rõ nếu một cá nhân bị tác động đến hệ quả môi trường đạt giá trị cao hơn hệ quả cá nhân, cá nhân đó sẽ có sẵn lòng có ý định và hành vi mua sắm có trách nhiệm với môi trường hơn. Young & cộng sự (2010) khi nghiên cứu về hành vi khách hàng xanh trong quá trình mua sắm sản phẩm cũng đã đưa ra mô hình gồm 5 biến quan sát có ảnh hưởng đến quyết định của họ: (1) kiến thức và những giá trị xanh nói chung, (2) những tiêu chí xanh trong việc mua sản phẩm xanh, (3) những rào cản hay sự hỗ trợ mà có thể loại bỏ hay nâng cao các tiêu chí xanh và có ảnh hưởng trong quá trình mua, (4) việc mua sản phẩm, (5) kinh nghiệm và kiến thức mua thu được từ quá trình mua, hay cảm giác tội lỗi vì đã không mua. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ rõ các nhân tố tác động trực tiếp đến việc tiêu dùng sản phẩm xanh bao gồm nhãn xanh (green labels), thông tin chuyên gia (specialist information), sự sẵn có của sản phẩm xanh trong các cửa hàng bán lẻ chính (availability of green products in mainstream retails) và các rào cản (barriers).
Có thể khẳng định rằng những năm gần đây, mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên, kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng còn thấp, tăng trưởng kinh tế vẫn còn dựa nhiều vào các yếu tố nền tảng sẵn có, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Cùng với đó, tài nguyên chưa được coi là nguồn lực đặc biệt quan trọng, vai trò, giá trị của tài nguyên còn chưa được nhận thức đầy đủ, đánh giá đúng tầm.
Điều đó dẫn đến hiệu quả sử dụng tài nguyên bị lãng phí, thất thoát nghiêm trọng bên cạnh các vấn nạn ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên bức xúc trong bối cảnh tác động biến đổi khí hậu tăng nhanh và diễn biến hết sức phức tạp. Trong bối cảnh này, Việt Nam đã xác định rõ chiến lược phát triển kinh tế quốc gia là thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; phát triển kinh tế tri thức; gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh. Đi cùng với chiến lược quốc gia, Thái Nguyên cũng lựa chọn con đường và hướng đi phù hợp, hướng tới chiến lược tăng trưởng kinh tế bền vững. Bài báo đã kiểm định thang đo đối với các yếu tố tác động đến tăng trưởng xanh thông qua khảo sát ý kiến của lãnh đạo cấp tỉnh và doanh nghiệp.
Qua tiến trình nghiên cứu và phân tích dữ liệu, kết quả thang đo các yếu tố tác động đến tăng trưởng xanh bao gồm 6 thành phần: (1) nhận thức, (2) công nghệ, (3) vốn đầu tư, (4) cơ sở hạ tầng, (5) nhân lực và (6) chính sách với 18 quan sát. Các thành phần của thang đo đóng góp thông tin, cơ sở cho hoạt động đánh giá, thăm dò ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý và là cơ sở cho việc đề xuất các nhóm giải pháp chiến lược nhằm hướng đến phát triển nền kinh tế xanh theo hướng nâng cao hiệu quả, thân thiện, bền vững. Đây còn là cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách phát triển kinh tế tại các địa phương. Từ đó, làm nền tảng để xây dựng tiêu chí đánh giá và nâng cao chất lượng phát triển nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh nhằm hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững.

5/5 - (1 vote)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo