Phân tích chuyển dịch tỷ trọng đến năng suất lao động

Bài viết xem xét chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến tăng năng suất lao động của tỉnh Hà Giang, Việt Nam
Phân tích chuyển dịch tỷ trọng đến năng suất lao động

Năng suất lao động và tăng trưởng và phát triển

Năng suất lao động là một trong những chủ đề luôn thu hút được sự quan tâm của các chuyên gia kinh tế và nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực tăng trưởng và phát triển. Kuznet (1979) cho rằng một nền kinh tế không thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao nếu tỷ trọng các ngành kinh tế không có sự dịch chuyển một cách tương xứng. Sự dịch chuyển này chính là yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện năng suất lao động (Maddison, 1987). Với giả định có sự dư thừa lao động ở những khu vực có năng suất thấp (như nông nghiệp), Maddison (1987) lập luận rằng năng suất lao động sẽ tăng nếu có sự chuyển dịch lao động sang ngành có năng suất cao hơn (như công nghiệp), từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Năng suất lao động được tính bằng tỷ lệ tương quan giữa sản lượng đầu ra so với đầu vào, trong đó giá trị đo lường đầu vào và đầu ra phụ thuộc từng đối tượng nghiên cứu. Trong phạm vi nền kinh tế, năng suất lao động được đo lường thông qua giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) (không bao gồm thuế và trợ cấp sản phẩm) bình quân đầu người lao động. Chịu tác động bởi nhiều yếu tố, ví dụ như vốn, mức độ thành thạo và trình độ của người lao động (Arvanitis, 2005), ứng dụng sáng chế khoa học, Internet (Kurt & Kurt, 2015), năng suất lao động không chỉ phản ánh hiệu quả sử dụng lao động mà còn thể hiện mức độ cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, năng suất lao động cũng bị tác động mạnh mẽ bởi quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khi kinh tế phát triển ở giai đoạn càng thấp thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ có vai trò càng lớn đối với tăng năng suất lao động. Tại Việt Nam, dù năng suất lao động đã thu hút được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách cả ở cấp trung ương và địa phương, nhưng nhiều nghiên cứu đều cho thấy năng suất lao động còn chưa thực sự đáp ứng kỳ vọng. Cụ thể, Nguyễn Quốc Tế & Nguyễn Thị Đông (2013) đã chỉ ra rằng năng suất lao động ở Việt Nam tăng lên chủ yếu nhờ vào chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp có năng suất thấp chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ với năng suất cao hơn.
Trong khi đó, Nguyễn Đức Thành (2018) sử dụng phương pháp phân tích chuyển dịch cơ cấu phân rã tăng trưởng năng suất lao động và chỉ ra rằng tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam đang chuyển dần từ phụ thuộc vào cường độ vốn sang phụ thuộc vào năng suất yếu tố tổng hợp (TFP). Đây là các chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng suất của nền kinh tế. Tuy nhiên, dù tăng trưởng của Việt Nam vẫn còn chưa đạt mức tiềm năng nhưng thu nhập bình quân đầu người còn rất thấp (Vũ Minh Khương, 2016). Chính vì vậy, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng suất lao động vẫn là điều kiện cần để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế không chỉ trên phạm vi tổng thể quốc gia mà cả ở cấp độ địa phương.
Là một tỉnh vùng cao biên giới phía Bắc Việt Nam, Hà Giang có vị trí địa chính trị quan trọng với nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển du lịch, kinh tế biên mậu, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế toàn tỉnh. Mặc dù vậy, kinh tế Hà Giang chỉ đang ở giai đoạn từng bước ra khỏi tình trạng kém phát triển1. Để thu hẹp khoảng cách phát triển so với các tỉnh thành trong cả nước, Hà Giang cũng xác định nâng cao năng suất lao động là một trong những mục tiêu hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Trước thực tế đó, nghiên cứu này nhằm phân tích thực trạng năng suất lao động của tỉnh Hà Giang trong thời gian qua, đồng thời đánh giá vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năng suất lao động của tỉnh.
Kết quả nghiên cứu là căn cứ quan trọng để tỉnh đề xuất các chính sách sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả, thực hiện mục tiêu tăng năng suất lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng trong dài hạn.
Nghiên cứu này được kết cấu thành năm phần: sau phần đặt vấn đề và tổng quan các công trình nghiên cứu về năng suất lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phần phương pháp nghiên cứu sẽ giải thích chi tiết phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến năng suất lao động. Phần kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin tổng quát về năng suất lao động của tỉnh Hà Giang và phân tích tác động của các yếu tố đến năng suất lao động của tỉnh bằng phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng. Phần cuối cùng là kết luận và gợi mở chính sách.

Đánh giá tầm quan trọng của dịch chuyển cơ cấu trong tăng trưởng

Những nghiên cứu gần đây về tăng trưởng kinh tế có xu hướng tập trung giải thích động lực hoặc yếu tố cản trở đến sự tăng trưởng kinh tế, trong đó nghiên cứu tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng trưởng năng suất lao động được nhiều học giả quan tâm. Kế thừa từ nghiên cứu tiên phong của Fabricant (1942) khi đánh giá mức độ đóng góp của dịch chuyển ngành đến tăng trưởng, gần đây có nhiều nghiên cứu tiêu biểu có thể kể tới như Timmer & Szirmai (2000), Havlik (2005), Timmer & de Vries (2009). Điểm chung của các nghiên cứu này là đã phát triển phương pháp phân tích tỷ trọng để khắc phục những nhược điểm cố hữu khi phân tích tỷ trọng theo cách truyền thống. Đó là sử dụng giá mờ để đánh giá tầm quan trọng của dịch chuyển cơ cấu trong tăng trưởng khi phân tích chuyển dịch tỷ trọng, và có tính đến sự khác biệt về năng suất lao động giữa các ngành kinh tế (Timmer & de Vries, 2009).
De Vries & cộng sự (2015) đã phân tách các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng năng suất lao động ở một số ngành kinh tế tại 11 quốc gia châu Phi khu vực cận Sahara trong giai đoạn 1960-2010. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự thay đổi mạnh mẽ trong việc tái phân bổ các nguồn lao động trong nền kinh tế của các quốc gia này từ những năm 1990, đặc biệt là sự tăng trưởng trong ngành dịch vụ, là do tác động của cải cách chính sách kinh tế định hướng thị trường và gia tăng thu nhập của người dân. Bên cạnh đó, sự dịch chuyển lao động ra khỏi ngành nông nghiệp đã thúc đẩy ngành dịch vụ mở rộng quy mô và tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, năng suất lao động cận biên của ngành dịch vụ thấp đã khiến hiệu ứng dịch chuyển động mang giá trị âm. Timmer & Szimai (2000) chỉ ra kết quả tương tự khi nghiên cứu các ngành công nghiệp sản xuất ở các quốc gia châu Á. McMillan & cộng sự (2014) cũng cho thấy sự dịch chuyển cấu trúc lao động gây tác động tiêu cực đến sự gia tăng năng suất lao động ở châu Mỹ La-tinh giai đoạn 1990-2005 và châu Á giai đoạn 1990-2000.
Với mục đích đánh giá tác động của dịch chuyển lao động từ ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao đến tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu gần đây của Diao & cộng sự (2019) cũng khẳng định có sự khác biệt rất lớn về xu hướng dịch chuyển ở mỗi quốc gia. Trong khi, động lực tăng trưởng ở một số nền kinh tế khu vực Đông Á (như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc) chủ yếu dựa vào quá trình công nghiệp hóa thì sự tăng trưởng ở châu Mỹ La-tinh lại nhờ tăng năng suất lao động nội ngành, đồng thời dịch chuyển cấu trúc lao động có tác động tiêu cực lên tăng trưởng, ngoại trừ ngành nông nghiệp. Điều đó có nghĩa là ở khu vực này, lao động đã dịch chuyển từ ngành có năng suất cao sang ngành có năng suất thấp. Ngược lại, Châu Phi lại tăng trưởng dựa vào sự chuyển dịch cấu trúc lao động, đặc biệt là ở một số quốc gia như Ethiopia, Malawi, Senegal, và Tazania.
Ngược lại với kết quả tìm được của những nghiên cứu trên, nhiều nghiên cứu lại chứng minh tác động tích cực của dịch chuyển cấu trúc lao động đến năng suất lao động nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung. Van Ark & Timmer (2003) chỉ ra rằng ở các nước có thu nhập thấp, sự tái phân bổ nguồn lực phát triển trong ngành nông nghiệp có xu hướng dịch chuyển sang ngành có nguồn lực tăng trưởng mạnh hơn. Trong khi đó, ở các nước phát triển thì sự dịch chuyển này lại hướng tới ngành dịch vụ, như tài chính, để đạt được sự tăng trưởng về năng suất lao động xã hội. Fan & cộng sự (2003) cũng chứng minh được vai trò quan trọng của dịch chuyển cơ cấu từ ngành có năng suất lao động thấp sang ngành có năng suất lao động cao đối với tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.
Đo lường dịch chuyển cấu trúc thông qua phương pháp dịch chuyển cấu trúc hiệu quả (Effective Structural Change – ESC), Vu (2017) đã nhấn mạnh tính hiệu quả trong dịch chuyển cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế của 19 nền kinh tế khu vực châu Á trong 43 năm từ 1970 đến 2012. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh tác động tích cực của dịch chuyển cấu trúc lao động hiệu quả đối với tăng năng suất lao động, năng suất yếu tố tổng hợp, thu nhập bình quân đầu người và lương.
Như vậy, có thể nhận thấy tác động của dịch chuyển cấu trúc lao động là rất khác nhau, có thể tác động tích cực, hoặc tiêu cực, tùy mẫu nghiên cứu và mức độ phát triển của nền kinh tế. Đây cũng chính là khoảng trống để nghiên cứu này đánh giá và so sánh mức độ ảnh hưởng của các thành tố tới tăng trưởng kinh tế nói chung và năng suất lao động nói riêng ở cấp độ địa phương Việt Nam.
Để phân tích mức độ ảnh hưởng của các bộ phận cấu thành tới năng suất lao động, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng. Phương pháp này được đề xuất bởi Fabricant (1942) và đã được nhiều nghiên cứu sau này áp dụng và phát triển như Timmer & Szirmai (2000), Havlik (2005), Timmer & de Vries (2009). Theo đó, năng suất lao động – đo lường bằng tỷ lệ giữa tổng sản phẩm trên địa bàn với tổng số lao động đang làm việc trên địa bàn – được phân tách thành các hiệu ứng do tăng năng suất nội ngành và hiệu ứng do thay đổi cấu trúc
Kết luận xu hướng tăng dần về năng suất lao động ở Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế theo hướng bền vững, thúc đẩy tăng trưởng năng suất lao động là một trong những thước đo quan trọng. Không chỉ giúp địa phương nhìn nhận và đánh giá hiệu quả phát triển kinh tế tổng thể, năng suất lao động còn là tiêu chí so sánh mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành trong nền kinh tế. Nghiên cứu này đã phân tích đặc điểm năng suất lao động tỉnh Hà Giang xét về tổng thể và từng ngành kinh tế. Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các bộ phận cấu thành tới tốc độ tăng năng suất lao động tỉnh Hà Giang trong 5 năm từ 2015 đến 2019.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra xu hướng tăng dần về năng suất lao động của toàn tỉnh, nhưng giá trị và tốc độ tăng năng suất vẫn còn khá thấp. Nếu phân tích từng lĩnh vực kinh tế thì thấy có sự khác biệt rõ rệt về năng suất lao động của mỗi ngành. Cụ thể, năng suất lao động trong lĩnh vực nông – lâm – thủy sản rất thấp, trong khi năng suất lao động của lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ cao hơn, tuy nhiên sự biến động tăng giảm không thể hiện rõ xu thế. Điều này phản ánh tác động của chính sách chuyển dịch cơ cấu lao động và các định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến tăng năng suất lao động của tỉnh Hà Giang còn chưa rõ nét trong giai đoạn 2015-2019.
Sử dụng phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng cho thấy tăng trưởng năng suất lao động tỉnh Hà Giang là do sự dịch chuyển lao động từ lĩnh vực có năng suất thấp sang lĩnh vực có năng suất cao hơn. Chính sự dịch chuyển này cũng là hệ quả của việc dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế một cách cơ học. Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới chịu tác động của nhiều yếu tố, để nâng cao năng suất lao động và thực hiện mục tiêu xây dựng cơ cấu kinh tế hiệu quả và bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Giang, chúng tôi đề xuất một số định hướng chính sách như sau:
Tỉnh cần rà soát, đánh giá lại kế hoạch phát triển tổng thể kinh tế xã hội, trong đó nên tập trung vào việc điều chỉnh lao động từ khu vực có hiệu quả kinh tế thấp sang lĩnh vực có năng suất lao động cao hơn. Lưu ý sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ theo hướng bền vững nhằm gia tăng năng suất lao động nhờ sự tái phân bổ các nhân tố giữa các ngành trong nền kinh tế thông qua hiệu ứng nội ngành và hiệu ứng dịch chuyển tĩnh. Phần lớn tăng trưởng năng suất lao động của tỉnh là dựa trên sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ và công nghiệp trong khi đó khu vực nông nghiệp đóng góp thấp hơn mặc dù chiếm tỷ trọng cao hơn.
Đối với Hà Giang, lĩnh vực quan trọng vẫn là nông nghiệp cần được ưu tiên phát triển hàng đầu, lại có năng suất lao động chưa cao. Vì vậy cần đầu tư vào khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp để gia tăng năng suất lao động của khu vực này. Cần có biện pháp khuyến khích đối với những phát minh, sáng chế mang lại hiệu quả kinh tế và gia tăng năng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tỉnh có thể chọn các giải pháp phù hợp để tập trung phát triển nông nghiệp nông thôn dưới nhiều hình thức, trong đó chú trọng vai trò của các hợp tác xã nhằm mang lại hiệu quả kinh tế tập thể, thu hút nhiều người dân cùng tham gia phát triển sản xuất, góp phần ổn định đời sống và phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Nghiên cứu đưa ra một bằng chứng thực nghiệm để các lãnh đạo tỉnh có thể tham khảo và đưa ra các quyết định chính sách nhằm chuyển đổi và tái cấu trúc nền kinh tế của tỉnh trong dài hạn, nhằm gia tăng năng suất lao động theo cả chiều rộng và chiều sâu nhờ cả hiệu ứng nội ngành (tăng cường năng lực công nghệ) và hiệu ứng dịch chuyển (mở rộng các yếu tố sản xuất).
Tuy vậy, nghiên cứu mới chỉ thực hiện tính toán và phân tích số liệu trong giai đoạn 5 năm gần đây ở ba khu vực chính của nền kinh tế. Đây là một gợi mở cho các nghiên cứu tiếp theo trong việc phân tích năng suất lao động theo từng nhóm ngành nhỏ hơn hoặc theo các khu vực kinh tế để mang lại những góc nhìn cụ thể hơn về chất lượng tăng trưởng năng suất lao động của địa phương so với các vùng khác có điều kiện tương đồng.
Bên cạnh đó, áp dụng phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng cũng có nhược điểm nhất định. Phương pháp này không lý giải được giả định vì sao tăng năng suất lao động nội ngành lại độc lập với dịch chuyển cấu trúc lao động. Chính vì vậy, việc áp dụng phương pháp dịch chuyển cấu trúc hiệu quả (Effective structural change – ESC) do Vu (2017) đề xuất kết hợp với sử dụng dữ liệu cấp tỉnh của Việt Nam là gợi mở khá phù hợp với những nghiên cứu kế tiếp.

5/5 - (1 vote)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo