Tăng trưởng kinh tế và các vấn đề môi trường

Bài viết giới thiệu tăng trưởng kinh tế đi kèm theo là các vấn đề môi trường ở Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế và các vấn đề môi trường

Phát triển kinh tế và môi trường

Mối quan hệ giữa ô nhiễm môi trường và các hoạt động kinh tế

Phát thải môi trường đang gây áp lực lên hiệu ứng nhà kính trong thế kỷ 21 (Mert & Caglar, 2020). Theo Cơ quan Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia, hiệu ứng nhà kính là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái môi trường (Butler & Montzka, 2019). Phát thải Carbon Dioxide (CO2) được xem là yếu tố chủ yếu gây ô nhiễm môi trường (Mert & Caglar, 2020; Nguyen & cộng sự, 2018). Do đó, nhiều nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ giữa ô nhiễm môi trường và các hoạt động kinh tế (Nguyen & cộng sự, 2018; Ertugrul & cộng sự, 2016) khi mà các hoạt động này là tác nhân chính góp phần tăng hiệu ứng nhà kính (Spangenberg, 2007).
Nghiên cứu này tiếp cận yếu tố tự do hóa thương mại (Trade openness – Trade) và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI), hai yếu tố có tác động đến môi trường thông qua các sự chuyển dịch vốn, công nghệ từ các nước phát triển sang các nền kinh tế mới nổi (Kahouli & Omri, 2017). Sự dịch chuyển này bao gồm chuyển giao các công nghệ cũ, lạc hậu gây ô nhiễm môi trường cho các quốc gia đang hoặc kém phát triển phù hợp với giả thuyết ” Thiên đường ô nhiễm” (polution-haven hypothesis) (Zakarya & cộng sự, 2015).
Ngược lại, hội nhập kinh tế cũng tạo cơ hội cho các nước tiếp nhận vốn và công nghệ mới từ các quốc gia phát triển để cải tiến, thay thế công nghệ cũ nhằm giảm lượng phát thải CO2 vào môi trường hay góp phần tăng thu nhập, giúp người dân thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của môi trường trong quá trình phát triển kinh tế tương đồng với giả thuyết ” cải thiện ô nhiễm” (pollution halo hypothesis) (Frankel & Rose, 2002).

Phát thải CO2 và ô nhiễm môi trường

Phát thải CO2 được xem là nguyên nhân chính dẫn đến hiệu ứng nhà kính (Haapanen & Tapio, 2016). Tại các nền kinh tế mới nổi, hàm lượng CO2 bình quân đầu người gấp 1,75 lần so với toàn thế giới chứng tỏ mức độ ô nhiễm tại khu vực này cao hơn so với bình quân của thế giới (Nguyen & cộng sự, 2018) hay các quốc gia đang phát triển phát thải 63% lượng CO2 ra môi trường (Center for Global Development, 2015) nhưng tỷ lệ này đang dần ổn định ở các nước phát triển (UNCTAD, 2019). Do đó, nghiên cứu sử dụng biến số CO2 là đại diện để đo lường mức ô nhiễm môi trường tại các nền kinh tế mới nổi.

Giả thuyết thiên đường ô nhiễm (Pollution Haven Hypothesis)

Trong điều kiện hội nhập kinh tế, các công ty đa quốc gia sẽ chuyển dịch sản xuất các hàng hóa bẩn gây ô nhiễm môi trường (Gill & cộng sự, 2018) từ các nước phát triển sang các nước đang, kém phát triển hoặc chuyển các công nghệ cũ từ các quốc gia có quy định nghiêm ngặt về vấn đề môi trường sang các quốc gia có quy định ít chặt chẽ hơn.
Vì vậy, Copeland & Taylor (1994) nêu ra khái niệm ” thiên đường ô nhiễm” lần đầu tiên trong Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (North American Free Trade Agreement) thông qua sự kết hợp các điều khoản về bảo vệ môi trường trong các hợp đồng thương mại quốc tế nhằm giảm thiểu các tác động này đến môi trường.

Giả thuyết ” sự cải thiện ô nhiễm” (Pollution Halo Hypothesis)

Giả thuyết ” cải thiện ô nhiễm” cho rằng các quy định nghiêm ngặt về môi trường tại các quốc gia giúp tạo ra các công nghệ sạch và hiệu quả hơn. Điều này góp phần nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp (Porter & Linde, 1995) đồng thời góp phần làm giảm phát thải CO2 (Frankel & Rose, 2002).

Lý thuyết về phát triển bền vững

Phát triển bền vững được xem là sự phát triển phù hợp với thực tiễn của quốc gia nhưng không tác động đến việc đáp ứng các nhu cầu này cho thế hệ tương lai (World Commission on Environment and Development, 1987). Nói cách khác, phát triển bền vững hướng đến việc phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, hạn chế gây ô nhiễm môi trường (Dobson, 1996).
Phát triển bền vững luôn gắn với 3 trụ cột là kinh tế, xã hội và môi trường có tính đến các yếu tố văn hóa đặc thù của địa phương (Spagenberg, 2002). Như vậy, nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố hội nhập kinh tế như tự do hóa thương mại, FDI và ô nhiễm môi trường.

Tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường

Zhang & Zhou (2016) cho rằng lý do chính khiến các kết luận khác nhau về tác động đến ô nhiễm môi trường là mức độ phát triển kinh tế cũng như mức thu nhập bình quân khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu kiểm định giả thuyết đường cong môi trường (The Environmental Kuznets curve – EKC), lý thuyết có dạng hình chữ U ngược (Shahbaz & cộng sự, 2017; Gil de Zúñiga & cộng sự, 2009; Panayotou, 1993) tại các quốc gia đang phát triển.
Lý thuyết này cho rằng các hoạt động kinh tế vừa là nguyên nhân làm gia tăng ô nhiễm môi trường trong ngắn hạn (ủng hộ giả thuyết ” thiên đường ô nhiễm” ) vừa góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường trong dài hạn (ủng hộ giả thuyết ” cải thiện ô nhiễm” ) (Mert & Caglar, 2020; Omri & cộng sự, 2015; Panayotou, 1993).

Tác động của hội nhập kinh tế đến tăng trưởng kinh tế

Tự do hóa thương mại (Trade) có tác động cùng chiều đến tăng trưởng kinh tế (Behbudi, Mamipour & Karami, 2010). Đồng thời, FDI có vai trò quan trọng khi chuyển giao các công nghệ mới, phương thức quản lý mới, kỹ năng và vốn tăng lên tạo cơ hội việc làm và cải thiện điều kiện làm việc, phát triển công nghiệp của các nước tiếp nhận FDI (Markusen & Venables, 1999).
Như vậy, độ mở kinh tế (hội nhập kinh tế) bao gồm Trade và FDI (Nguyen & cộng sự, 2018) được xem là hai nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế tại các nền kinh tế mới nổi (Nguyễn Minh Kiều & cộng sự, 2016; Markusen & Venables, 1999) thông qua các công nghệ mới của máy móc, thiết bị từ các nước phát triển, phát triển nguồn nhân lực và việc làm, mở rộng thương mại quốc tế (Alguacil & cộng sự, 2011).

Tác động của hội nhập kinh tế đến môi trường

Trade và FDI có những tác động đáng kể đến chất lượng môi trường của các nền kinh tế mới nổi trong quá trình tăng trưởng kinh tế (Nguyen & cộng sự, 2018; Kahouli & Omri, 2017). Sự tác động này có thể ủng hộ giả thuyết ” Thiên đường ô nhiễm” (Võ Thị Thúy Kiều & Lê Thông Tiến, 2019; Dasgupta & Wheeler, 1997) hoặc cũng có thể ủng hộ giả thuyết ” sự cải thiện ô nhiễm” thông qua các công nghệ tiên tiến nhằm làm giảm phát thải CO2 (Paramati & cộng sự, 2017). Một số tác động của Trade có thể làm gia tăng lượng phát thải CO2 phải kể đến Naranpanawa (2011) tại Sri Lanka (1960-2006); Shahbaz & cộng sự (2017) tại Pakistan (1971-2010).
Ngoài ra, yếu tố cải thiện thể chế có thể tác động và làm giảm lượng phát thải CO2 trong dài hạn tại 14 quốc gia Trung Đông và Bắc Phi (MENA) (Al-Mulali & Ozturk, 2015). Ngược lại, thể chế yếu với các ràng buộc và quy định thiếu nghiêm ngặt sẽ tạo ra lợi thế so sánh cho các nền kinh tế mới nổi nhưng cũng góp phần hình thành nên các ” thiên đường ô nhiễm” mới (Le & cộng sự, 2016; Zakarya & cộng sự, 2015). Tuy nhiên, Trade cũng giúp thúc đẩy chuyển giao các công nghệ xanh và tập trung cho đầu tư vào tái tạo năng lượng, góp phần cải thiện môi trường tại nhóm các nước BRICS (Sebri & Ben-Salha, 2014).
Theo Nghị định thư Kyoto (1997), FDI là dòng vốn quan trọng giúp các nước đang phát triển tăng trưởng kinh tề và thu hẹp khoảng cách về trình độ kỹ thuật với các quốc gia phát triển, như Trung Quốc (1979 – 2007) (Wang & Wan, 2008); Châu Phi (1980 – 2007) (Hailu, 2010). Đồng thời, FDI là yếu tố góp phần cải thiện môi trường (Frankel & Rose, 2002) tại Cộng hòa Dân chủ Congo và Nam Phi (Kivyiro & Arminen, 2014) nhưng cũng tác động tiêu cực đến môi trường tại Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và Liên bang Nga (1980- 2007) (Pao & Tsai, 2011); Kenya và Zimbabwe (Kivyiro & Arminen, 2014); Trung Quốc (Jiang, 2015; Ren & cộng sự, 2014); Các quốc gia MENA (Abdouli & Hammami (2017); 5 quốc gia ASEAN (Baek, 2016).
Ngoài ra, tác động của FDI đến mức độ phát thải CO trong điều kiện bất cân xứng thông tin trong ngắn hạn và dài hạn cho kết quả lần lượt là đồng biến và nghịch biến ủng hộ EKC tại Thổ Nhĩ Kỳ (1974 – 2018) (Mert & Caglar, 2020); Trung Quốc (1997 – 2012) (Jiang, 2015).

Tác động của mức tiêu thụ năng lượng, đô thị hóa và sự phát triển của thị trường tài chính

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy mức độ tiêu thụ năng lượng (Energy) hay đô thị hóa (Urban) có tương quan đồng biến với lượng phát thải CO (Bollen & cộng sự, 2010). Ngoài ra, phát triển của thị trường tài chính (financial development – FD) dẫn đến một hệ thống tài chính hoạt động tốt (Levine, 2005) cũng là nhân tố gián tiếp tác động đến môi trường (Al-mulali & cộng sự, 2015).

Thể chế tác động đến mức phát thải CO trong bối cảnh hội nhập kinh tế

Theo North (1990), thể chế là những quy tắc, luật lệ do con người tạo ra, có cấu trúc và có sự tương tác từ nhiều khía cạnh bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội. Thể chế bao gồm các quy tắc ràng buộc chính thức theo hiến pháp, luật, các văn bản pháp quy dưới luật… và không chính thức như quy tắc hành vi, ứng xử, tục lệ,… Theo đó,ải cách thể chế có thể giúp các quốc gia tăng trưởng kinh tế và gia tăng ô nhiễm môi trường (Herrera-Echeverri & cộng sự, 2014). Mặt khác, tăng trưởng kinh tế góp phần làm gia tăng thu nhập từ đó làm thay đổi nhận thức người dân về phát triển bền vững hay cải thiện ô nhiễm môi trường (Fernandez & cộng sự, 2018; Ren & cộng sự, 2014; Dal Bó & Rossi, 2007) hoặc cải cách thể chế theo hướng đổi mới các kỹ thuật thân thiện với môi trường (Silajdzic & Mehic, 2015).
Cuối cùng, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng về tác động của trung bình thể chế (aveins) và tác động cộng hưởng của trung bình thể chế (instrade, insfdi, instradi) đến lượng phát thải ô nhiễm môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng thể chế trung bình (aveins) ” thắt chặt” tại các nền kinh tế mới nổi là tác nhân làm gia tăng ô nhiễm môi trường.
Lý giải cho điều này có thể là chất lượng quản trị công tốt hơn sẽ giúp thu hút FDI và các ngành công nghiệp sản xuất thông qua tác động cộng hưởng của thể chế trung bình và FDI (insfdi) làm gia tăng lượng phát thải ô nhiễm môi trường ủng hộ giả thuyết ” thiên đường ô nhiễm” . Ngược lại, tác động cộng hưởng của thể chế trung bình và tự do hóa thương mại (instrade) lại có tác động ngược chiều chứng tỏ điều kiện thể chế tốt sẽ giúp vấn đề tự do hóa thương mại với các hoạt động xúc tiến thương mại gắn liền với yếu tố bảo vệ môi trường tiến tới sự phát triển bền vững ủng hộ giả thuyết ” sự cải thiện ô nhiễm” .

Nhận xét: các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Hiệu ứng nhà kính đã trở thành vấn đề mà nhiều quốc gia phải bận tâm trong thế kỷ 21. Đặc biệt, các nước mới nổi thường có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi kèm theo là các vấn đề môi trường tăng lên. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của thể chế đến lượng phát thải CO thông qua việc gia tăng hội nhập kinh tế, điều này góp phần dịch chuyển các yếu tố công nghệ từ các nền kinh tế phát triển sang các quốc gia, nhóm nước đang phát triển, các nền kinh tế mới nổi.
Hiệu ứng của sự dịch chuyển bất cân xứng này có thể phù hợp với giả thuyết ” Thiên đường ô nhiễm” và giả thuyết ” Sự cải thiện ô nhiễm” , phù hợp với lý thuyết đường cong Kuznets. Bên cạnh đó, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò của chính phủ ở khía cạnh thể chế trong mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế đến chất lượng môi trường, góp phần nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường nhưng cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng phát thải CO .
Cuối cùng, kết quả nghiên cứu với các biến số thể chế trung bình và tác động cộng hưởng đưa ra các hàm ý chính sách cho Việt Nam hoàn thiện khung pháp lý thể chế nhằm đáp ứng nhu cầu của một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và là điểm đến thu hút FDI nhưng đảm bảo phát triển bền vững gắn với các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

5/5 - (2 votes)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo