Thuế đất trống và vai trò của thuế đất trống

Bài viết cung cấp nội dung: Hiệu quả sử dụng đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thuế đất trống

Thuế đất trống và vai trò của thuế đất trống

đất bỏ hoang, đất trống

Đất đai và vấn đề bỏ hoang đất đai

Đất đai là tài sản quốc gia, là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tất nhiên, diện tích đất đai là có hạn so với sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Việt Nam, trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh đó là tình hình gia tăng dân số nhanh chóng, làm tăng nhu cầu đất đai để sản xuất, để làm nơi ở.
Do vậy, việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai là vấn đề đặc biệt quan trọng, nhất là đối với một quốc gia ” đất chật người đông” như Việt Nam. Song, thực trạng quản lý và sử dụng đất đai tại Việt Nam thời gian qua cho thấy, hiệu quả sử dụng đất còn hạn chế, ngay cả những khu vực mà đất đai được xem là ” tấc đất tấc vàng” như Tp.Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Vấn đề bỏ hoang đất đai, triển khai dự án chậm tiến độ vẫn còn rất phổ biến, hiện tượng đầu cơ, tích tụ đất đai, đẩy giá đất đai (giá quyền sử dụng đất), BĐS tăng cao đang là vấn đề nan giải cho Việt Nam. Để thúc đẩy việc sử dụng đất đai, BĐS có hiệu quả, Nhà nước phải sử dụng nhiều công cụ hành chính, pháp luật và công cụ kinh tế, tài chính khác nhau. Trong đó, việc sử dụng công cụ tài chính, đặc biệt là chính sách thuế có vai trò quan trọng. Vì vậy, trong giới hạn của bài viết này, các tác giả nghiên cứu và đề xuất giải pháp thu thuế đối với đất trống với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại Việt Nam, góp phần hạn chế tình trạng hoang hóa đất đai.

Thuế đất trống và vai trò của thuế đất trống

Thuế đất trống thực chất là thuế sử dụng đất và được thu hàng năm, đối tượng nộp thuế là người có quyền sử dụng đất nhưng chưa đưa đất vào khai thác, sử dụng, bỏ hoang đất đai hoặc chậm triển khai dự án. Thu thuế sử dụng đất nói chung, Chính phủ kỳ vọng đạt được cùng lúc hai mục tiêu kép: tăng nguồn tài chính của quốc gia, đặc biệt là của chính quyền địa phương và tối đa hóa năng suất hoạt động của nguồn tài nguyên quí giá này, đồng thời ngăn chặn lũng đoạn, đầu cơ đất đai. Đối với thuế đất trống còn có ý nghĩa hạn chế các trường hợp hoang hóa đất đai, gây lãng phí quỹ đất, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Nếu nguồn thu từ thuế sử dụng đất nói chung, thuế đất trống nói riêng được sử dụng một cách có hiệu quả, chất lượng và số lượng của các dịch vụ công, cơ sở hạ tầng ở địa phương sẽ gia tăng. Việc đầu tư từ thuế sẽ mang lại giá trị mới cho đất đai, làm cho giá trị của đất tăng lên. Tất nhiên, việc gia tăng giá trị mới của đất sẽ dẫn đến trách nhiệm nộp thuế đất sẽ cao hơn.

Cơ sở thu thuế sử dụng đất

Về cơ sở tính thuế, mỗi quốc gia có văn hóa, xã hội, môi trường và kỹ thuật khác nhau trong thẩm định giá, nên các nước tùy vào điều kiện thực tế của nước mình để lựa chọn cơ sở tính thuế.
Hai cơ sở phổ biến nhất hiện nay là dựa trên diện tích đất hoặc giá trị của đất và thuế suất. Trong đó, thu thuế dựa vào diện tích đất được sử dụng ở một số nước trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế, vì so với hệ thống thuế tính theo giá trị của đất thì hệ thống thu thuế này có chi phí hành thu ít hơn, dữ liệu duy trì tính thuế cũng dễ dàng hơn. Thu thuế dựa trên giá trị đất được thực hiện theo hai cách là xác định giá trị thị trường hoặc giá trị cho thuê của đất. Giá trị thị trường bao gồm sự mong đợi của thị trường vào thu nhập tương lai của đất đai đó, trong khi giá trị tiền thuê phản ánh giá trị sinh lời hiện tại của tài sản, trên thực tế những biến động của thị trường đất đai khó dự đoán hơn hệ thống giá trị cho thuê của đất.
Tuy nhiên, cơ sở thu thuế đất dựa vào giá trị của đất có nhiều ưu việt hơn dựa vào diện tích đất, vì cơ bản giá trị đất được tạo ra bởi cơ sở hạ tầng, dịch vụ công và các lợi ích của những dịch vụ này được vốn hóa trong giá trị của đất đai. Đối với Việt Nam, chính sách thuế sử dụng đất được xây dựng từ năm 1993 (thuế sử dụng đất nông nghiệp), năm 1994 (thuế nhà đất), lúc này thị trường quyền sử dụng đất còn rất sơ khai, cơ sở tính thuế dựa vào diện tích đất là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội lúc bấy giờ, nhưng đến nay đã bộc lộ một số khuyết điểm. Tất nhiên, với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay hoàn toàn có thể thu thuế trên cơ sở giá trị của đất.
Thuế suất được xem là ” linh hồn” của sắc thuế, phục vụ cho việc xác định nghĩa vụ thuế. Thuế suất thường khác nhau giữa các loại đất tùy vào mục đích sử dụng như: đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp, đất khu dân cư, khu thương mại, khu công nghiệp,… Căn cứ để xác định thuế suất chủ yếu là dựa vào mục tiêu và nhu cầu của cơ quan thuế, tính chất, mức độ của cơ sở thuế. Trước khi xác định thuế suất, cơ quan tài chính quốc gia (địa phương) phải xác định số ngân sách họ cần từ thuế đất và ngân sách dự toán có thể thu được (phụ thuộc vào quá trình thu thuế). Mặt khác, vì lý do tránh đầu cơ, tích tụ, lũng đoạn thị trường đất đai và khuyến khích sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm các nhà làm luật áp dụng hình thức thuế suất luỹ tiến hoặc thu thuế cao hơn đối với đất trống, không đưa vào sử dụng để điều tiết.

Thu thuế sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất tại Việt Nam

Thu thuế đất tại Việt Nam thời gian qua cho thấy, mức thu thuế quá thấp chưa đủ để thúc đẩy sử dụng đất có hiệu quả và tạo nguồn thu bền vững cho NSNN. Cụ thể, mức thu thuế đất hàng năm trung bình chỉ chiếm 2,81% trong tổng thu từ BĐS; 0,28% trong tổng thu NSNN và 0,08% GDP giai đoạn 2003– 2010 (xem bảng 1). Ở Việt Nam, thuế đất xem như là thuế tài sản, mức thu còn thấp quá xa so với mức trung bình của các nước. Thống kê của IMF cho thấy, mức thu thuế tài sản bình quân thập niên 2000 các nước phát triển là 1,46%/GDP; các nước đang phát triển là 0,53%/GDP; và các nước đang chuyển đổi là 0,72%/GDP. Nguyên nhân chính dẫn đến mức thu thuế đất thấp là do:

Thu thuế sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất tại Việt Nam

Thu thuế sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất tại Việt Nam


– Chính sách thu thuế đối với đất ở Việt Nam chưa hợp lý; chưa theo kịp sự phát triển của thị trường đất đai và BĐS;
  • Chưa bao quát hết các đối tượng nộp thuế;
  • Cơ sở tính thuế chưa phù hợp với điều kiện thực tế;

– Thuế suất được xác định bằng giá thóc và giá thóc ngày càng có xu hướng giảm nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, nâng cao năng suất thu hoạch thóc, làm cho mức thu thuế đất thấp và có tính lũy thoái.
Như phân tích ở trên, do những bất cập trong hệ thống thu thuế đất tại Việt Nam nên hiệu quả sử dụng BĐS tại Việt Nam được các chuyên gia đánh giá là chưa cao. Hiện tượng đất bỏ hoang, qui hoạch treo, dự án kéo dài còn phổ biến, nhất là đối với đất đô thị. Tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, do ảnh hưởng bởi hiện tượng đầu cơ nhà đất nên dẫn đến rất nhiều diện tích đất còn bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, gây lãng phí quỹ đất. Đến nay vẫn chưa có cơ quan thống kê hoặc nghiên cứu nào đưa ra con số về diện tích đất đai và dự án BĐS bỏ hoang tại Việt Nam, chưa đưa vào khai thác sử dụng.
Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, có tới gần 300.000 ha đất của 4.120 tổ chức được giao, thuê nhưng chưa sử dụng, trong đó diện tích còn để hoang hoá lên tới hơn 250.000 ha, còn lại gần 49.000 ha là đầu tư, xây dựng chậm tiến độ2. Điều đáng nói là ngay cả quỹ đất công hiện nay tỷ lệ hoang hóa cũng rất cao. Tại TP.Hồ Chí Minh, giai đoạn năm 2004 đến 2010, Thành phố đã thực hiện thu hồi 80/1.437 dự án do triển khai chậm hoặc không triển khai, chiếm khoảng 10% diện tích đất được giao.
Đến năm 2012, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp sẽ thay thế cho chính sách thuế nhà đất hiện hành. Cơ sở tính thuế được xác định dựa trên giá trị đất và thuế suất. Tuy nhiên, trong thực tế, khung giá đất do Nhà nước đưa ra quá thấp, chưa phù hợp với giá cả đất đai trên thị trường nên chính sách thu thuế đất cũng chưa đáp ứng yêu là tạo nguồn thu bền vững cho NSNN và khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả.

Nhận xét

Qua phân tích thực trạng thu thuế đất và hiệu quả sử dụng đất tại Việt Nam cho thấy, việc thu thuế đối với đất trống, không đưa vào khai thác sử dụng cao hơn so với đất đã sử dụng là điều cần thiết, không những tăng nguồn thu NSNN mà còn là giải pháp khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả. Như trình bày ở trên, thuế đất trống thực chất là thuế sử dụng đất, nhưng thuế suất đối với đất trống được điều tiết cao hơn đất đã đưa vào sử dụng nhằm khuyến khích nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Việc sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của thị trường BĐS nói riêng, toàn nền kinh tế nói chung. Vấn đề này đặt ra không riêng cho Việt Nam mà hầu như các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển. Giải pháp thu thuế đất trống góp phần thúc đẩy sử dụng đất có hiệu quả, phần nào giải quyết những nghịch lý trong đầu tư phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam bằng nguồn NSNN.
Tuy nhiên, việc xây dựng, họach định cũng như vận dụng luật pháp (luật đất đai và những văn bản hướng dẫn thi hành luật) và chính sách, cơ chế liên quan đến đất đai, quản lý thị trường BĐS còn nhiều bất cập; thị trường BĐS còn thiếu minh bạch; tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan làm cho tính thanh khoản của thị trường kém; các giao dịch BĐS ngoài sàn còn chiếm chủ yếu; do vậy cũng gây khó khăn cho quá trình xác định tỷ lệ thuế suất thuế đất trống. Đây cũng là hạn chế của mô hình trong điều kiện đặc thù của Tp.Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung.

5/5 - (1 vote)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo