Xem xét vai trò của doanh nghiệp nhà nước và tăng trưởng kinh tế – phần 1

Bài viết cung cấp nội dung: khu vực kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, tăng trưởng kinh tế

Xem xét vai trò của doanh nghiệp nhà nước và tăng trưởng kinh tế – phần 1

Doanh gnhiep nha nuoc

Vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Ớ Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được hiểu là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ1. Như vậy, hiện nay, DNNN bao gồm các loại doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH một thành viên hoặc trên 50% vốn điều lệ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Tuy nhiên, doanh nghiệp hoàn toàn vốn nhà nước (DNNN) còn có thể tổ chức dưới hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên có các thành viên đều là nhà đầu tư nhà nước và công ty cổ phần nhà nước có các cổ đông đều là cổ đông nhà nước.
Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, Đảng và Nhà nước ta đã xác định DNNN là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng có các vai trò, chức năng, nhiệm vụ chủ yếu sau:
– Thứ nhất, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế và là công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết, bình ồn giá cả, đảm bảo các cân đối lớn góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ hai, cung cấp sản phẩm dịch vụ trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh và các sản phẩm dịch vụ thiết yếu cho xã hội mà thị trường không đảm bảo cung ứng nhằm duy trì phúc lợi chung cho xã hội.
Thứ ba, đầu tư vào những địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu vùng xa mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư nhằm mục đích phát triển kinh tế- xã hội miền núi, vùng sâu, vùng xa, giảm sự chênh lệch với các vùng khác.
Thứ tư, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn.
– Thứ năm, là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Điều đó cho thấy, ngoài các chức năng kinh doanh như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, các DNNN ở nước ta còn phải thực hiện các chức năng, nhiệm vụ phục vụ các mục tiêu chính trị- kinh tế- xã hội do Nhà nước giao. Đồng thời, DNNN có vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới ảm đạm tiềm ẩn những biến cố khó lường sắp tới.
DNNN giữ vai trò không thể thiếu được trong nền kinh tế Việt Nam, vừa đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc gia, vừa phù hợp với xu thế của kinh tế thế giới, đồng thời cho phép khai thác được những lợi thế so sánh của quốc gia và là hệ quả tất yếu của tăng trưởng. DNNN qui mô lớn là nền tảng hình thành và phát triển các tâẫp đoàn kinh tế (TĐKT), có tiềm năng vươn ra thị trường quốc tế, trở thành những tập đoàn toàn cầu.
Nếu đạt được trình độ quản lý hiện đại, phát huy được lợi thế về quy mô, chiến lược phát triển tận dụng lợi thế so sánh, DNNN sẽ là nguồn lực thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển. Hơn thế nữa, các TĐKT sẽ là bệ đỡ chống lại sự thâm nhập ồ ạt của các tập đoàn nước ngoài, bảo vệ sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những cam kết ràng buộc tự do thương mại, cũng như tổn thương tiềm ẩn của nguy cơ khủng hoảng tài chính, xây dựng các DNNN qui mô lớn là giải pháp quan trọng để bảo vệ sản xuất trong nước khi mà các doanh nghiệp nhỏ không đủ sức cạnh tranh với các TĐKT lớn nước ngoài. Đây chính là bài học được đúc kết từ kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước Châu Á, các chaebol của Hàn Quốc là một ví dụ.

Vấn đề tồn tại trong DNNN

Hiện nay, dưới tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu những năm 2008-2009, khu vực kinh tế nhà nước ở nước ta đã bộc lộ nhiều khuyết tật. Khu vực DNNN đang gặp gặp phải những vấn đề mà nếu như không có giải pháp tháo gỡ thì các mục tiêu phát triển KT – XH đề ra sẽ rất khó đạt được. Có thể nêu lên 3 vấn đề tồn tại chủ yếu sau đây:

Hiệu quả vốn đầu tư nhà nước thấp

Thực tế cho thấy, ” mức tăng trưởng của khu vực kinh tế nhà nước luôn thấp hơn mức tăng trưởng kinh tế chung của cả nước và đương nhiên thấp hơn khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoà.” 3. Trong khi tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, mà đầu tư nhà nước có qui mô lớn nhất (Hình 1), các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa phát huy được lợi thế của doanh nghiệp có quy mô lớn, chưa tương xứng với sự quan tâm, đầu tư của Chính phủ. Thậm chí, một số Tập đoàn, Tổng công ty dù hạn chế về năng lực cũng như kinh nghiệm, vẫn huy động quá nhiều vốn để đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh sang cả những ngành, lĩnh vực nhạy cảm, ít liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính của mình như tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản,…
Hậu quả là tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu cao rất dễ dẫn đến đổ vỡ tài chính trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, nợ công và triển vọng kinh tế kinh tế ảm đạm hiện nay. Một số tập đoàn, tổng công ty do mở rộng quá nhanh mạng lưới các công ty con trong điều kiện chưa hình thành được các bộ quy chế quản lý, điều chỉnh mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty con trong từng lĩnh vực dẫn đến lúng túng trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát công ty con, cũng như xử lý sai sót trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đóng góp của DNNN có xu hướng giảm trong khi đóng góp của các thành phần kinh tế khác có xu hướng tăng. Điều đó cho thấy, nguyên do của sự thụt lùi về hiệu quả kinh tế là xuất phát từ khu vực DNNN. Bảng 1 cho thấy khu vực nhà nước ở Việt Nam dù chiếm hữu rất nhiều nguồn lực nhưng sử dụng chúng một cách kém hiệu quả, một đơn vị đầu tư đem lại phần đóng góp rất khiêm tốn cho ngân sách, tăng trưởng GDP, tạo việc làm mới, phát triển công nghiệp, cũng như xuất khẩu. Do đó, mục tiêu của cải cách DNNN là phải đẩy mạnh hiệu quả đồng vốn của khu vực này.
Thực tế, hiệu quả đầu tư của đồng vốn nhà nước là rất thấp, gần như chỉ nhỉnh hơn một nửa so với đầu tư nước ngoài (Bảng 2), thậm chí còn thấp hơn mặt bằng lãi suất ngân hàng. Theo Bảng 2, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm 2008 là dưới 14%, còn báo cáo tóm tắt kết quả giám sát ” Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước” của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì trong năm này, 56/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) dưới 15%, thấp hơn cả mặt bằng lãi suất trong năm (trong khi chỉ số CPI trung bình lên tới 20%). Vậy, thực tế hầu hết các tập đoàn và tổng công ty nhà nước đã thua lỗ.
Tương tự, đánh giá theo hệ số vốn đầu tư ICOR, dù tính theo vốn đầu tư thực hiện hay theo tích lũy tài sản thì hệ số ICOR của khu vực kinh tế nhà nước cũng cao gấp rưỡi hệ số ICOR chung của toàn nền kinh tế4. Hậu quả là dù trải qua gần 20 năm kiên trì cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, sự suy giảm hiệu quả đầu tư của khu vực này đã kéo theo sự suy giảm hiệu quả đầu tư của toàn nền kinh tế, ngày càng tăng mức trầm trọng (Hình 2). Hay nói cách khác, để có một đơn vị tăng trưởng, phải đánh đổi bằng một số vốn ngày càng nhiều hơn.
Như vậy đầu tư nhà nước kém hiệu quả mà nhưng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu đầu tư nên đã làm giảm hiệu quả đầu tư chung của nền kinh tế, kéo theo năng suất thấp, năng lực cạnh tranh quốc gia yếu, cùng với sự thiếu linh hoạt trước những biến cố kinh tế, dẫn đến nguy cơ dễ bị tổn thương mạnh trước khủng hoảng kinh tế, đặc biệt là khủng hoảng tài chính. Do đó, để hướng tới mô hình tăng trưởng bền vững, vấn đề nâng cao hiệu qủa đầu tư nhà nước là một trong những vấn đề cấp thiết.
Tuy nhiên cần nhận thức rõ, mục tiêu là tăng hiệu quả vốn đầu tư, nghĩa là phải thu được tăng trưởng nhiều hơn trên một đồng vốn nhà nước bỏ ra (giảm chỉ số ICOR). Mục tiêu này được thực hiện qua nhiều công cụ, trong đó có tái cơ cấu DNNN thông qua công cụ CPH, tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước. Có nghĩa là quá trình tư nhân hóa DNNN phải được nhìn nhân như là phương tiện chứ không là mục tiêu, nếu quá trình này không nâng cao hiệu quả đầu tư, nghĩa là công cụ này không hiệu quả…
Vì vậy, cần chú ý trước hết đến vấn đề chất lượng chứ không phải là tốc độ CPH và tư nhân hóa. Nếu quá trình đổi mới DNNN không được thực hiện nghiêm túc, những người chủ mới của DNNN không có được năng lực quan lý mới, không có cơ chế quản lý cũng như quản trị tiến bộ thì khả năng ” rượu cũ bình mới” là rất dễ xảy ra. Do đó, hiệu quả đồng vốn nhà nước không được cải thiện là điều dễ hiểu.

Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chưa thu được kết quả mong muốn

Tuy đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng quá trình cổ phần hoá vẫn bộc lộ những yếu kém, hạn chế cần khắc phục sau đây:
– Thứ nhất, tiến độ thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước chậm, đặc biệt đối với doanh nghiệp có quy mô lớn, doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Thời gian thực hiện cổ phần hoá một doanh nghiệp bình quân mất 437 ngày5 và điển hình là thời gian cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương mất tới hơn 4 năm. Qua gần 17 năm đầy ” gian khó” thực hiện cổ phần hoá nhưng số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cổ phần hoá mới chỉ chiếm khoảng 20% tổng số vốn nhà nước hiện có tại các doanh nghiệp nhà nước.
Thứ hai, quá trình CPH không thực sự song hành cùng quá trình tư nhân hóa DNNN, tỷ trọng vốn nhà nước bình quân tại các doanh nghiệp cổ phần hoá còn vốn nhà nước vẫn chiếm tới 52% vốn điều lệ của các doanh nghiệp cổ phần hoá. Thiếu sự minh bạch về thông tin cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này, các nhà đầu tư hiệu quả khó không nói là không tiếp cận được nguồn vốn của Nhà nước.
Ba là, dù thay đổi loại hình doanh nghiệp, song phương pháp, cơ chế quản lý, quản trị công ty sau cổ phần hoá hầu như không có thay đổi đáng kể. Do đó, câu chuyện ” rượu cũ bình mới” diễn ra, hiệu quả đồng vốn đầu tư của nhà nước không được cải thiện.
Đồng thời, các cổ đông mới chưa phát huy được quyền làm chủ, trong đó do phần lớn người lao động trong doanh nghiệp ” bị bắt buộc” trở thành cổ đông nên thiếu hiểu biết về quyền, nghĩa vụ của mình, dẫn tới tình trạng không cải thiện đáng kể về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như mục tiêu người lao động trở thành người chủ thực sự của doanh nghiệp.
Hiện có ý kiến cho rằng một trong những nguyên nhân của tình trạng này là thị trường tài chính và chứng khoán trong nước và thế giới thời gian qua, đặc biệt từ năm 2007, có nhiều biến động, gây khó khăn cho việc phát hành cổ phiếu ra ngoài doanh nghiệp, khiến nhiều cuộc đấu giá cổ phiếu không thành công. Quan niệm này cho rằng chính bối cảnh lạm phát, thắt chặt tiền tệ, dư chấn suy thoái toàn cầu năm 2007 và 2008, biến động mạnh của thị trường chứng khoán khiến cho việc bán đấu giá cổ phần DNNN gặp khó khăn và dãn tiến độ IPO. Cũng có ý kiến cho rằng do quy mô của các doanh nghiệp được tiến hành cổ phần hoá ngày càng lớn hơn, cơ cấu tổ chức và quan hệ phức tạp hơn hoặc có tình hình tài chính không lành mạnh, nên mất thời gian vào việc thanh tra, xử lý khiếu nại, tố cáo, di dời trụ sở,…
Tuy nhiên, nguyên nhân chính của việc chậm trễ trong quá trình CPH là do thiếu một qui trình bài bản, và sự không minh bạch về thông tin. Do thiếu qui trình bài bản nên các chính sách, nghị định, thông tư qui định còn lúng túng, phải sửa đổi và điều chỉnh không ít, chưa nói là còn nhiều kẽ hở dẫn đến hiện tượng thất thoát tài sản của nhà nước. Do chính sách, qui định liên quan đến CPH vừa chưa rõ ràng, vừa không thống nhất, tần suất sửa đổi điều chỉnh tương đối nhiều6, nên đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, các thông tư hướng dẫn thường ban hành chậm nên cũng đã ảnh hưởng đến tiến độ khai kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Do thiếu sự minh bạch về thông tin mà quá trình đánh giá, định giá không thỏa đáng, đồng thời các nhà đầu tư hiệu quả khó không nói là không tiếp cận được nguồn vốn của nhà nước. Một số quy định pháp luật về cổ phần hoá chưa thật sát với thực tế cũng như về các nội dung tính đủ giá trị đất, nhất là việc việc tính giá đất thuê vào giá trị doanh nghiệp, xác định lợi thế về địa lý, giá trị thương hiệu, lựa chọn cổ đông chiến lược (trước hoặc sau khi IPO), minh bạch các thông tin về cổ phần hoá,… nên kéo dài thời gian cổ phần hoá hoặc bị lợi dụng trong tổ chức thực hiện (trường hợp Intimex, Ngân hàng ngoại thương).

Chất lượng quản trị và quản lý DNNN thấp

Vấn đề nâng cao hiệu quả một đồng vốn đầu tư của Nhà nước có thể giải quyết được bằng một công cụ không mới nhưng dường như đang bị lãng quên, đó là nâng cao chất lượng quản lý DNNN. Vấn đề này gắn với quản trị doanh nghiệp nói chung, không riêng gì đối với DNNN, tuy nhiên đây lại là vấn đề không nhỏ đối với DNNN, bởi chất lượng quản trị doanh nghiệp và chất lượng quản lý thấp trong DNNN xưa nay vẫn là một vấn đề khó giải quyết.
Ở nước ta, trên thực tế thì còn thiếu những văn bản hết sức quan trọng trong quản trị các doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn kinh tế nhà nước như ví dụ vẫn chưa có điều lệ về tổ chức, hoạt động. Điển hình của cơ chế quản trị lỏng lẻo này là Vinashin, một tập đoàn kinh tế lớn, dẫn đến các sai lầm gây thất thoát vốn nhà nước một cách trầm trọng.
Một câu hỏi đặt ra là tại sao chất lượng quản lý là một vấn đề tồn tại gần như là cố hữu trong DNNN? Phải chăng nguyên nhân chủ yếu là thiếu một cơ chế giám sát và thiếu tính công khai minh bạch về tài sản cũng như hiệu quả hoạt động của DNNN, từ đó che giấu căn bệnh cố hữu của DNNN? Chính cơ chế quản lý, giám sát kiểm tra buông lỏng đã dẫn đến tình trạng thay vì tìm giải pháp khắc phục yếu kém, nâng cao năng lực cạnh tranh, lại tìm cách che đậy hay trốn tránh trách nhiệm.
Chính việc thiếu cơ chế cũng như bộ phận giám sát kiểm tra hiệu quả mà việc định giá tài sản hữu hình cũng như vô hình không đạt được độ chính xác, gây thiệt hại về vật chất lại vừa thiệt hại về thời gian. Trong khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế lâu dài sẽ đòi hỏi tất yếu theo chế độ kiểm toán quốc tế, đáp ứng chuẩn mực công khai, minh bạch. Vậy, cần một cơ chế giám sát có hiệu quả và khách quan, từ đó mới có thể ” bắt bệnh để kê thuốc” cho DNNN.
Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân khiến DNNN năng lực yếu kém do DNNN có quá nhiều chủ dẫn đến tình trạng ” cha chung không ai khóc” . Do ” lỗ hổng” pháp lý trong quản lý khối tài sản cũng như quản trị tại các doanh nghiệp nhà nước, là chưa có văn bản pháp luật để quản lý khối tài sản khổng lồ tại các doanh nghiệp nhà nước, mỗi bộ, mỗi chính quyền địa phương có liên quan đều nhận mình là chủ phần việc được giao trong quản lý khối tài sản tại các doanh nghiệp nhà nước. Khi vấn đề xảy ra, vấn đề sẽ qui trách nhiệm cho bộ phận nào lại khó giải quyết được, do đó, từ quá nhiều chủ, ‘khối tài sản tại các doanh nghiệp nhà nước trở thành vô chủ’7. Do đó vấn đề tách chức năng chủ sở hữu và quản lý DNNN được đặt ra.
Bên cạnh chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước còn phân tán, chồng chéo gây ra tình trạng trách nhiệm trong quản lý chưa rõ ràng, việc thiếu một cơ quan đầu mối theo dõi, tổng hợp chung đã dẫn đến hệ thống thông tin về DNNN còn chưa đồng bộ. Nhiều cơ quan quản lý nhà nước được giao thực hiện chức năng giám sát, thanh tra, kiểm tra đối với các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước xong lại thiếu sự phối hợp đồng bộ dẫn đến sự chồng chéo, vừa thừa vừ thiếu, vừa gây ra gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp, vẫn tạo những kẽ hở gây thất thoát tài sản của nhà nước. Đồng thời công tác giám sát đối với DNNN nói chung và các Tập đoàn, Tổng công ty lớn nói riêng cũng không được phân công rõ ràng sát sao, dẫn đến buông lỏng trong quản lý và trì trệ về hiệu quả hoạt động của DNNN.
Một vấn đề cũng không kém phần quan trọng đó là năng lực cạnh tranh của các DNNN là yếu kém, khả năng phản ứng thị trường, đặc biệt biến động về tài chính là chậm, nguyên nhân ngoài bộ máy công kềnh, ruờm rà, quản lý vừa yếu, thiếu mà bởi vì cơ chế hoạt động xưa nay của DNNN là dựa vào cơ chế xin cho, ỷ vào bao cấp, trợ cấp và ưu đãi của nhà nước. Chính những ưu đãi, ở vị thế ” con cưng” đã mặc định ưu thế của DNNN, được ngầm hiểu như ” ưu thế cạnh tranh” của DNNN có được mà chẳng cần phải phấn đấu, chính điều này không những làm thui chột mà triệt tiêu động lực ” cạnh tranh để tồn tại” , từ đó dẫn đến sự trì trệ, yếu kém, thụ động của DNNN.
Cần nói thêm rằng, bản chất không hiệu quả của DNNN là do sự khác biệt về động cơ và mâu thuẫn lợi ích, trong đó có lợi ích về mặt thăng tiến hay chính trị trong ngắn hạn hơn là lợi nhuận hay phát triển kinh doanh lâu dài của bộ phận lãnh đạo và quản lý loại hình doanh nghiệp này so với các loại hình doanh nghiệp khác. Đặc biệt, Nhà nước vừa đóng vai trò là chủ sở hữu DNNN, vừa ra chính sách tạo môi trường kinh doanh cho toàn nền kinh tế, trong đó có ” con đẻ” của Nhà nước, nên dễ gây ra tình trạng ” vừa đá bóng vừa thổi còi” trong hoạt động kinh doanh, vừa có những chính sách thiên vị cho DNNN, vừa buông lỏng giám sát và xử lý vi phạm loại hình doanh nghiệp này.

5/5 - (2 votes)
Web Làm kinh doanh - Kiến thức Làm Kinh Doanh
Logo